Tìm kiếm
Thông tin
Thống kê truy cập: So khach vieng tham
Liên kết

Bản tin thị trường nông sản số 4 tháng 7/2017

7/7/2017 3:45:45 PM
Diễn biến tình hình thị trường nông, lâm, thủy sản trong kỳ từ ngày 15 - 28/6/2017

 

Tải file bản tin tại đây

Thị trường sản phẩm nông nghiệp

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương

Số 4 năm 2017

 

TRONG SỐ NÀY:

 

 

Ø  Tổng quan ngành

Ø  Thông tin thị trường nội địa

v  Diễn biến tình hình thị trường nông, lâm, thủy sản trong kỳ từ ngày 15 - 28/6/2017

v  Các cơ quan quản lý nỗ lực đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp

Ø  Thông tin thị trường xuất khẩu

v  Hoạt động xuất khẩu là điểm sáng nhất của toàn ngành nông nghiệp

v  Xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản sang thị trường Nga còn nhiều tiềm năng

v  Xuất khẩu nông, thủy sản sang Nhật Bản tăng khá

Ø  Thông tin xúc tiến thương mại

v  Hưng Yên xây dựng và giữ gìn nhãn hiệu, thương hiệu cho nông sản

v  Vải thiều Việt Nam lần đầu tiên xuất khẩu sang Thái Lan

v  Năm 2017, có 40 nghìn tấn vải thiều sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc

v  Doanh nghiệp Hàn Quốc có nhu cầu nhập khấu ngô nếp trắng

v  Hội chợ Thương mại và Người tiêu dùng Halfest 2017 từ ngày 23-27/8/2017

Ø  Thông tin chính sách

v  Bổ sung dự toán thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

v  Tôm Australia chế biến ở Việt Nam được cấp phép tái nhập vào Australia

Ø  Tin vắn

v  Philippines hạ dự báo sản lượng gạo quý 2/2017

v  Hàn Quốc thắt chặt quy định nhập khẩu tôm

    2

3

3

4

6

6

12

16

21

21

24

24

25

 

26

26

26

27

27

27

28

 

 

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

PHÒNG THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU – TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI – BỘ CÔNG THƯƠNG

655 Phạm Văn Đồng – Bắc Từ Liêm - Hà Nội                                                                   

Bộ phận phát hành: (04) 37152585 /(04) 37152586                                                         Fax: (04) 37152574

TỔNG QUAN NGÀNH

Trong lĩnh vực xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2017 đạt 12,09 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm 12,4% tỷ trọng trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên cả nước. Trong đó, ghi nhận tốc độ tăng trưởng khá của hầu hết các mặt hàng chủ lực, đặc biệt là hai mặt hàng rau quả và cao su với tốc độ tăng trưởng về kim ngạch rất cao, tăng trên 50% so với cùng kỳ năm trước. Yếu tố tác động tích cực nhất đến hoạt động xuất khẩu nhóm nông, thủy sản trong nửa đầu năm 2017 là nhu cầu tiêu thụ tại nhiều thị trường tăng trở lại cộng với sự hồi phục về giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản. Trong số 9 mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam, có đến 6 mặt hàng có giá bán tăng cao hơn cùng kỳ, trong đó, tăng mạnh nhất là cao su và cà phê; ngược lại, hồ tiêu dù lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị lại giảm do giá giảm sâu.

Đây được đánh giá là kết quả tương đối tích cực và là một trong những điểm sáng của ngành nông nghiệp trong bối cảnh nửa đầu năm 2017 toàn ngành phải đối mặt với không ít khó khăn trong việc đẩy mạnh tiêu thụ các mặt hàng nông sản. Với triển vọng khả quan của thị trường xuất khẩu của các mặt hàng nông sản chủ lực như rau quả, cà phê, thủy sản, cao su, hay mới đây nhất là dấu hiệu khởi sắc ở các thị trường xuất khẩu gạo, dự báo xuất khẩu nhóm nông, thủy sản trong nửa cuối năm 2017 sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá trên 10%, góp phần quan trọng đưa mức tăng trưởng GDP của toàn ngành nông nghiệp trong cả năm 2017 đạt mục tiêu 3,05% như kỳ vọng.

Một số thông tin đáng chú ý

- 6 tháng cuối năm 2017, dự báo giá các mặt hàng nông, thủy sản tại thị trường trong nước sẽ còn nhiều biến động. Trong đó, giá gạo, cà phê, nhân điều nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung giảm trong khi nhu cầu đang có xu hướng tăng. Ngược lại, giá cao su, thủy, hải sản, hạt tiêu dự báo giảm do nhu cầu chững lại và nguồn cung dồi dào.

- Ngày 21/6 vừa qua, Bộ NN&PTNT đã quyết định thành lập Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản. Sau khi ra đời, cơ quan này sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là với Bộ Công Thương, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và nông dân để nghiên cứu, phân tích, dự báo tốt thị trường, gắn sản xuất với tiêu thụ.

- Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản sang thị trường Nhật Bản 5 tháng năm 2017 đạt gần 641 triệu USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng, tháng 5/2017 xuất khẩu sang thị trường này đạt 157,1 triệu USD, tăng 12,5% so với tháng 4/2017 và tăng 31,8% so với tháng 5/2016.

- Tính đến hết tháng 5/2017, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Nga đạt 146,63 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện Nga đang là thị trường tiêu thụ nông, thủy sản lớn thứ 13 của Việt Nam, với thị phần chiếm 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam. Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường Nga trong 5 tháng đầu năm nay, nhóm hàng nông, thủy sản chiếm 18,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này.

 

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Diễn biến tình hình thị trường nông, lâm, thủy sản trong kỳ từ ngày 15 - 28/6/2017

Giá gạo: Trong tháng 6/2017, nhu cầu nhập khẩu gạo từ các thị trường Bănglađet và Philipine đã đẩy giá gạo thế giới tăng 40 - 50 USD/tấn.

Trong bối cảnh đó, thị trường lúa gạo nội địa trong nửa cuối tháng 6/2017 tiếp tục sôi động với giá tăng khoảng 100 – 200 đồng/kg (tương ứng 2% - 2,8%) so với kỳ trước đó (từ ngày 1 – 14/6/2017). Tính đến ngày 28/6/2017, giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL loại thường dao động từ 5.300– 5.400 đ/kg, lúa dài khoảng 5.800 – 5.900 đ/kg. Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu hiện đứng ở mức 7.200 – 7.300 đ/kg tùy từng địa phương, gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6.700 – 6.800 đ/kg tùy chất lượng và địa phương. Giá gạo thành phẩm hiện khoảng 8.000 – 8.100 đ/kg, gạo 15% tấm 7.800 – 7.900 đ/kg và gạo 25% tấm khoảng 7.600 – 7.700 đ/kg tùy chất lượng và địa phương.

Như vậy, so với đầu năm nay, hiện giá gạo đã tăng từ 200 – 800 đ/kg. Trong đó, tăng mạnh nhất là các loại gạo thành phẩm 5% tấm,15% tấm và 25% tấm.

Giá cà phê: Giá cà phê trong kỳ từ ngày 15/6 đến 29/6/2017 đạt 44.800 đ/kg, tăng 600 đ/kg so với giữa tháng 6/2017.    

Yếu tố chính hỗ trợ giá cà phê trong nửa cuối tháng 6 là báo cáo về sản lượng cà phê toàn cầu Bộ Nông nghiệp Mỹ đưa ra dự báo, dự trữ cà phê toàn cầu sẽ xuống thấp nhất 6 năm trong niên vụ 2017/18 do cầu tăng mạnh trong khi nguồn cung không biến động nhiều so với vụ trước.

Giá cao su: Giá thu mua cao su trong nước giảm từ 600 – 900 đồng/kg so với giữa tháng 6/2017 do giá cao su thế giới suy giảm trong bối cảnh tồn kho cao su tại Trung Quốc tăng cao.

Giá thủy, hải sản: Trong nửa cuối tháng 6/2017, các doanh nghiệp chế biến tiếp tục đẩy mạnh thu mua cá tra nguyên liệu để phục vụ thị trường xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, nguồn cung cá giống trong tháng này tăng trở lại khiến giá phần nào hạ nhiệt.

Trong nửa cuối tháng 6/2017, giá cá tra thịt trắng loại 1 và 2 tại Đồng Tháp giảm 300 đ/kg so với giữa tháng 6/2017, đạt 23.700 – 25.700 đ/kg.

Tương tự, giá tôm càng xanh 100 con/kg tại Đồng Tháp giảm 10.000 đ/kg, đạt 250.000 đ/kg.

Hàng rau quả: Thời điểm sau Tết nguyên đán, giá thanh long vẫn đứng ở mức khá cao, trong đó thanh long ruột đỏ dao động khoảng 40.000 – 45.000 đồng/kggiá thanh long ruột trắng được thu mua từ 15.000 – 17.000 đồng/kg. Tuy nhiên trong giai đoạn này, tại Tiền Giang đang vào vụ thu hoạch thanh long nhưng giá bán cho thương lái với đã giảm rất mạnh. Giá thanh long ruột đỏ hiện xuống dưới 10.000 đồng/kg. Hiện đang rộ mùa thu hoạch thanh long, hàng nhiều trong khi các thương lái Trung Quốc không thu mua nên giá giảm sâu.

Trong khi đó, giá thu mua thanh long ruột đỏ ở miền Tây hàng loại đẹp hiện có giá khoảng 15.000 đồng/kg. Tại Bình Thuận, giá thanh long được thu mua tại vườn trong 1 tháng gần đây đã giảm đáng kể so với trước đó xuống khoảng 10.000 đồng/kg, giảm 50% so với mức giá thời điểm sau Tết vừa qua.

Dự báo:

6 tháng cuối năm nay, giá các mặt hàng nông, thủy sản được dự báo sẽ còn nhiều biến động. Trong đó, giá gạo, cà phê, nhân điều được dự báo sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung giảm trong khi nhu cầu đang có xu hướng tăng. Ngược lại, giá cao su, thủy, hải sản, hạt tiêu nhiều khả năng sẽ giảm do nhu cầu chững lại và nguồn cung dồi dào.

Tham khảo giá nông, thủy sản tại thị trường trong nước ngày 28/6/2017

(ĐVT: 1.000 đ/kg; USD/tấn)

Tên hàng

28/6/2017

So với ngày 14/6/2017 (%)

So với ngày 26/5/2017 (%)

So với đầu năm 2017 (%)

Lúa khô loại thường (kg)

5.400

1,9

5,9

0,9

Lúa khô loại dài (kg)

5.900

1,7

6,3

6,3

Gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm (kg)

7.300

2,8

9,8

5,0

Gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 25% tấm (kg)

6.800

2,3

8,8

0,0

Giá gạo thành phẩm 5% tấm (kg)

8.100

2,5

9,5

1,3

Giá gạo thành phẩm 15% tấm (kg)

7.900

2,6

9,7

1,3

Giá gạo thành phẩm 25% tấm (kg)

7.700

2,7

9,2

1,3

Giá chào bán gạo trắng 5% tấm (USD)

420

5,0

13,5

7,7

Giá chào bán gạo trắng 25% tấm (USD)

400

3,1

11,7

8,1

Cà phê nhân xô tại Tây Nguyên (kg)

44.800

1,4

6,9

37,4

Giá cà phê Robusta xuất khẩu tại cảng TP Hồ Chí Minh  (USD)

2.016

2,4

9,9

32,9

Chè xanh Thái Nguyên búp khô (kg)

120.000

0,0

0,0

0,0

Chè cành Thái Nguyên chất lượng cao (kg)

225.000

0,0

0,0

12,5

Chè xanh Thái Nguyên búp khô (loại 1) (kg)

155.000

0,0

0,0

-3,1

Chè xanh nguyên liệu loại 1 tại Lâm Đồng (kg)

9.000

0,0

0,0

0,0

Chè đen nguyên liệu loại 1 tại Lâm Đồng (kg)

5.000

0,0

0,0

11,1

Giá nhân điều khô tại Bình Phước (kg)

52.000

-1,9

-1,9

30,0

Tiêu đen Tây Nguyên và Nam Bộ (kg)

74.000

0,0

-9,8

-56,5

Mủ chén, dây khô

11.600

-7,2

-21,6

 

Mủ chén ướt

8.100

-8,0

-22,1

 

Mủ đông khô

10.600

-7,0

-21,5

 

Mủ đông ướt

8.500

-6,6

-21,3

 

SVR CV (VNĐ/kg)

42.775

-4,7

-15,8

58,8

SVR 10 (VNĐ/kg)

30.703

-2,3

-9,4

28,5

SVR 20 (VSĐ/kg)

30.615

-2,3

-9,4

28,7

Cá tra thịt trắng loại 1 tại Đồng Tháp

25.700

-1,2

-6,5

19,5

Cá tra thịt trắng loại 2 tại Đồng Tháp

23.700

-1,3

-8,8

21,5

Tôm càng xanh (100 con/kg) Đồng Tháp

250.000

-3,8

-10,7

0,0

Nguồn: Trung tâm Thông tin CN&TM tổng hợp

Các cơ quan quản lý nỗ lực đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2017, thị trường trong nước đã và đang tham gia giải cứu đối với hàng loạt mặt hàng nông sản trong nước, từ chuối Đồng Nai, dưa hấu Quảng Ngãi tới thịt lợn, trứng gia cầm, bí đỏ…

Sau gần 2 tháng giải cứu thịt heo trên cả nước thì đến thời điểm này giá thịt hơi đã nhích lên nhưng vẫn ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước, hiện chỉ dao động ở mức 20.000 - 27.000 đồng/kg (tùy từng địa phương).

Một số địa phương có lượng thịt heo tồn lớn hiện vẫn đang tiếp tục trong công cuộc giải cứu. Một khó khăn khác đang ngày càng ảnh hưởng mạnh đến các trại chăn nuôi heo là đầu ra con giống đang gặp khó khăn. Thông thường, các trại chăn nuôi heo có quy mô từ vài trăm con sẽ có trại heo giống vừa để có heo giống tự nuôi vừa cung cấp con giống cho thị trường. Tuy nhiên hiện nay, do giá heo giảm mạnh kéo dài khiến người nuôi lỗ nên không có người mua con giống (giá heo giống trước đây từ 100.000-120.000 đồng/kg, nay giảm còn 35.000-45.000 đồng/kg). Trong khi đó, đàn heo nái vẫn đẻ theo chu kỳ nên các trại buộc phải giữ lại heo giống để nuôi tiếp. Do đó, nguồn heo thịt vẫn được các trại tiếp tục nuôi với số lượng lớn.

Theo nhận định, giá heo sẽ còn ở mức thấp trong nhiều tháng nữa, thậm chí kéo dài đến hết năm. Trong trường hợp các trại có chăn nuôi heo giống cắt giảm được nguồn heo nái để chủ động được nguồn heo giống nhằm giảm đàn; đồng thời phía Trung Quốc cho mở biên trở lại để nguồn heo thịt được xuất bán sang nước này như trước... thì khi đó giá heo mới có thể tăng trở lại. 

Tham khảo giá heo (lợn) hơi vào cuối tháng 6/2017

Thị trường

Giá (đồng/kg)

Lạng Sơn

25.000 - 27.000

Yên Bái

22.000 - 24.000

Phú Thọ

22.000 - 24.000

Thái Bình

20.000 - 24.000

Hà Nam

19.000 – 22.000

Quảng Bình

22.000 -25.000

Bình Dương

25.000 - 26.000

Đồng Nai

22.000 - 27.000

Vĩnh Long

23.000 - 25.000

Lâm Đồng

28.000 - 30.000

Kiên Giang

25.000 - 27.000

Đông Nam Bộ

24.000 – 26.000

ĐBSCL

23.000 – 25.000

Trong khi cả nước tập trung giải cứu thịt lợn thì giá gia cầm, đặc biệt là trứng gia cầm cũng giảm mạnh. Tại nhiều địa phương, giá trứng gà công nghiệp chỉ còn bán được 18.000 đồng/chục. Nguyên nhân chính là do cung đã vượt cầu cộng với do giá thịt heo giảm mạnh, các chương trình giải cứu diễn ra rầm rộ, người tiêu dùng cũng như các nhà máy, công ty, xí nghiệp, bếp ăn công nghiệp tăng mua lượng thịt lợn dẫn đến lượng gia cầm và trứng gia cầm tiêu thụ giảm.

Trong khi đó, kể từ cuối tháng 5 đến nay, thị trường đang tiếp tục chung tay giải cứu bí đỏ cho nông dân Đắc Lắc. Với diện tích trồng lớn, sản lượng nhiều, giá bí đỏ tại đây nông dân chỉ còn bán được 1.000 - 2.000 đồng/kg, thậm chí nhiều vùng không tiêu thụ được phải thu hoạch xong chất bên vệ đồng. Trong khi đó, chi phí công sức phân bón, tưới tiêu, thuê mướn nhân công đã lên đến 2.000 - 3.000 đồng/kg. Do lượng bí tồn đọng lớn, không bán được nên nguy cơ số lượng lớn bí đỏ đến mùa thu hoạch bị thối, hư hỏng. Trước tình hình đó, các đoàn thể, người dân ở TP Hồ Chí Minh, Thừa Thiên- Huế đã vào cuộc giải cứu, thu mua giúp bí đỏ với giá 5.000 - 6.000 đồng/kg để bán cho nông dân.

Theo đánh giá, có hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhiều mặt hàng nông sản lâm vào tình trạng khủng hoảng thừa sau một thời gian tăng trưởng nóng:

Thứ nhất về phía cầu, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp đang phải đối mặt với các rào cản thương mại ngày càng phức tạp và khắt khe. Đặc biệt là phải cạnh tranh gay gắt với các nước đang đẩy mạnh xuất khẩu; giá cả nhiều mặt hàng nông sản vẫn chưa phục hồi, trong khi các thị trường phát triển dần bão hòa và tăng cường bảo hộ.

Thứ hai về phía cung, tình trạng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển được dự báo tiếp tục ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, năng lực sản xuất dư thừa của một số ngành hàng như chăn nuôi khiến ngành này gặp nhiều rủi ro từ thị trường xuất khẩu.

Trước diễn biến phức tạp của ngành nông nghiệp, ngày 21/6 vừa qua, Bộ NN&PTNT đã quyết định thành lập Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý Nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về phát triển thị trường nông, lâm, thủy sản và muối; điều phối các hoạt động phát triển thị trường; đầu mối quản lý và chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ theo phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng. Cục được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề  muối, theo Quyết định số 1348/QĐ-BNN-TCCB ngày 11/4/2017.Theo kỳ vọng của Bộ NN&PTNT,việc thành lập Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sau khi ra đời, cơ quan này sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là với Bộ Công Thương, các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và nông dân để nghiên cứu, phân tích, dự báo tốt thị trường, gắn sản xuất với tiêu thụ.Từ đó tạo ra những sản phẩm sạch, giá cả hợp lý, phục vụ trong nước và xuất khẩu, đem lại giá trị kinh tế cho ngành nông nghiệp.

Đây được đánh giá là động thái mang tính đột phá của Bộ NN&PTNT, thể hiện rõ quyết tâm tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng dài hạn, bền vững của Bộ. Song song với việc thành lập Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản, trong thời gian tới kỳ vọng Bộ NN&PTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu trong từng lĩnh vực của ngành nông nghiệp, từ trồng trọt, chăn nuôi tới nuôi trồng thủy hải sản. Xây dựng những vùng chuyên canh lớn, chăn nuôi hướng tới mô hình trang trại thì mới có thể kiểm soát được đầu vào- đầu ra, cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm, và đặc biệt cần tập trung chuyên sâu vào khâu chế biến.

Trước sự ra đời của Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản - Bộ NN&PTNT, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho biết, ngành Công thương sẽ tiếp tục sát cánh, đồng hành cùng ngành nông nghiệp trong xúc tiến thị trường nông sản. Việc ra đời của Cục Chế biến và Phát triển thị trường Nông sản thể hiện chiến lược quan trọng trong phát triển thị trường nông sản, góp phần đưa sản xuất ngày càng gắn liền hơn với chế biến và thị trường tiêu thụ.

Với những nỗ lực của Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương cùng với những cơ quan quản lý khác, kỳ vọng các vấn đề còn vướng mắc trong khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong nước sẽ sớm được giải quyết, nhất là trong trung và dài hạn.

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Hoạt động xuất khẩu là điểm sáng nhất của toàn ngành nông nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2017

Trong tháng 6/2017, kim ngạch xuất khẩu nông, thuỷ sản ước đạt 2,25 tỷ USD, giảm nhẹ 0,7% so với tháng trước, đưa tổng giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2017 đạt 12,09 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm 12,4% tỷ trọng trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên cả nước.

Trong nhóm này, cao su và rau quả là hai mặt hàng có kim ngạch tăng trưởng mạnh nhất, tăng lần lượt là 52,9% và 50,4% so với 6 tháng đầu năm 2016. Ngoài ra, do giá tăng nên một số mặt hàng như hạt điều, cà phê dù khối lượng giảm nhưng kim ngạch vẫn tăng 20,3%, cà phê tăng 9,9%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng tăng khá mạnh 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái, gạo tăng 11,9%. Trong nhóm nông, thủy sản chỉ có hai mặt hàng có kim ngạch giảm là hồ tiêu (-15,6%), sắn và các sản phẩm từ sắn (-9,9%).

Yếu tố tác động tích cực nhất đến hoạt động xuất khẩu nhóm hàng này trong nửa đầu năm 2017 là nhu cầu tiêu thụ tại nhiều thị trường tăng trở lại, sự tăng tốc mạnh mẽ của xuất khẩu rau quả cộng với sự hồi phục về giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực. Trong số 9 mặt hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam, có đến 6 mặt hàng có giá bán tăng cao hơn cùng kỳ, trong đó, tăng mạnh nhất là cao su và cà phê; ngược lại, hồ tiêu dù lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị lại giảm do giá giảm sâu.

Đây được đánh giá là kết quả tương đối tích cực và là một trong những điểm sáng của ngành nông nghiệp trong bối cảnh nửa đầu năm 2017 toàn ngành phải đối mặt với không ít khó khăn trong việc đẩy mạnh tiêu thụ các mặt hàng nông sản, nhất là cuộc khủng hoảng giá lợn đến nay vẫn chưa đến hồi kết, ngoài ra nhiều mặt hàng khác cũng phải kêu gọi giải cứu  như trứng gia cầm, chuối, dưa hấu, ớt…

Ước tính xuất khẩu nhóm nông, thủy sản trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2017

(ĐVT: Lượng: nghìn tấn; Trị giá: triệu USD)

Mặt hàng

Tháng 6/2017

So sánh với T5/17 (%)

So sánh với T6/16 (%)

6 tháng đầu năm 2017

So sánh với 6T đầu năm 2016 (%)

Lượng

Kim ngạch

Lượng

Kim ngạch

Lượng

Kim ngạch

Lượng

Kim ngạch

Lượng

Kim ngạch

Tổng KN xuất khẩu

 

17.800

 

-0,7

 

20,9

 

97.775

 

18,9

Nhóm nông, thủy sản

 

2.245

 

-1,2

 

27,5

 

12.090

 

16,7

Tỷ trọng

 

12,6

 

 

 

 

 

12,4

 

 

Thủy sản

 

700

 

-1,3

 

23,4

 

3.554

 

15,6

Rau quả

 

350

 

-6,8

 

101,7

 

1.749

 

50,4

Hạt điều

32

328

-3,3

-0,5

-2,6

26,8

149

1.446

-4,7

20,3

Cà phê

120

266

-1,8

-3,0

-24,1

-8,8

829

1.871

-15,5

9,9

Chè

12

20

2,4

-0,4

3,1

-0,7

62

96

16,0

13,2

Hạt tiêu

25

120

-5,4

-13,2

51,8

-12,8

128

724

20,4

-15,6

Gạo

600

264

3,5

2,1

85,4

76,9

2.957

1.314

13,5

11,9

Sắn và các sản phẩm từ sắn

250

70

-4,4

7,4

41,6

28,1

1.989

500

-5,7

-9,9

- Sắn

49

8

-59,0

-59,4

-8,7

-25,6

797

131

-25,6

-28,3

Cao su

80

127

31,2

24,6

-2,5

17,5

442

835

0,4

52,9

Đối với mặt hàng cà phê: Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 6/2017 ước đạt 120 nghìn tấn, trị giá 266 triệu USD, giảm 1,8% về lượng và 3,0% về trị giá so với tháng trước, đồng thời so với tháng 6/2016 cũng giảm 24,1% về lượng và 8,8% về trị giá. Tính chung 6 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu cà phê của nước ta đạt 829 nghìn tấn, trị giá 1,871 tỷ USD, giảm 15,5% và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, giá xuất khẩu cà phê Robusta, Arabica và cà phê Excelsa tăng từ 21,8 – 35,6% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo, khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới sẽ hồi phục do nhu cầu tiêu dùng toàn cầu tăng, trong khi đó vụ mùa mới cà phê Arabica Brasil giảm 5,1 triệu bao xuống 40,5 triệu bao do chu kỳ hai năm một.

Chủng loại cà phê xuất khẩu trong tháng 5 và 5 tháng năm 2017

(ĐVT: Lượng: tấn; Trị giá: nghìn USD)

Chủng loại

5 tháng năm 2017

So với 5 tháng năm 2016 (%)

Tháng 5/2017

So với tháng 4/2017 (%)

So với tháng 5/2016 (%)

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Robusta

626.181

1.324.398

-15,5

13,7

105.690

219.143

-11,4

-13,5

-28,2

-10,2

Arabica

34.434

99.197

-26,0

-9,9

3.972

10.557

-23,0

-28,1

-40,3

-33,7

Cà phê hòa tan

14.221

67.506

38,4

24,3

2.991

13.989

67,1

47,9

61,0

48,1

Cà phê Excelsa

1.246

2.872

-23,1

4,4

651

1.496

105,8

107,9

41,3

88,3

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan

Đối với mặt hàng gạo: Số liệu thống kê sơ bộ cho thấy, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 đạt 2,95 triệu tấn, trị giá 1,31 tỷ USD, so với cùng kỳ năm ngoái tăng 13,5% về lượng và 11,9% về trị giá. Tính riêng trong tháng 6/2017, lượng gạo xuất khẩu của nước ta đạt 600 tấn, tăng 3,5% so với tháng trước đồng thời tăng đến 85,4% so với tháng 6/2016. Trong đó, nguyên nhân chính tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo trong thời gian gần đây là do nhu cầu xuất khẩu gạo có chiều hướng khởi sắc vì lượng gạo tồn kho của các nước xuất khẩu gạo lớn hiện còn không nhiều. Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước như Philippines, Bangladesh, Indonesia đang cao. Cụ thể, cuối tháng 5/2017, Bangladesh và Việt Nam đã ký biên bản ghi nhớ về thương mại gạo, đồng thời nước này thông báo muốn mua khoảng 250.000​-300.000 tấn gạo trắng 5% tấm và mua khoảng 500.000 tấn gạo của Việt Nam từ nay đến hết năm 2017.  Ngoài ra,Philippines cũng có thông báo chính thức về kế hoạch nhập khẩu 250.000 tấn gạo trong tháng 6 và tháng 7, nhằm tăng cường lượng gạo dự trữ trước thời điểm trái vụ và phòng trường hợp thóc bị hư hại do mưa bão.

Trong những tháng đầu năm 2017, Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt nam, chiếm khoảng 46,5% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm nay đạt 1,1 triệu tấn và 488 triệu USD, tăng 34,2% về khối lượng và tăng 31,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Philippines là thị trường xuất khẩu gạo lớn thứ hai của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2017 với 8,6% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 5 tháng qua đạt 237.400 tấn và 90,4 triệu USD, tăng 23,4% về khối lượng và tăng 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), đến thời điểm này, hợp đồng đã đăng ký đạt trên 3,5 triệu tấn. Dự kiến trong 6 tháng cuối năm sẽ xuất khẩu thêm khoảng 2,97 triệu tấn. Đây là kết quả đáng mừng bởi trong năm 2016, khi xuất khẩu gạo của nước ta bị sụt giảm tới mức báo động thì nhiều dự đoán xuất khẩu gạo trong 6 tháng đầu năm nay sẽ khó có thể đạt tới con số 1 tỷ USD.

Một số chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2017

(ĐVT: Lượng: tấn; Trị giá: nghìn USD)

Mặt hàng

5 tháng năm 2017

So với 5 tháng năm 2016 (%)

Tháng 5/2017

So với tháng 4/2017 (%)

So với tháng 5/2016 (%)

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Gạo trắng

1.277.739

515.323

-9,9

-12,4

264.124

104.760

3,8

-4,0

115,7

98,3

5% tấm

973.560

404.981

41,0

35,3

186.613

76.689

2,9

-6,0

88,9

76,9

15% tấm

98.204

33.764

-78,1

-80,3

21.772

7.338

-12,4

-14,9

110,9

91,3

100% tấm

71.966

23.280

280,5

262,6

36.695

11.812

494,8

456,5

1.098,0

939,2

10% tấm

22.310

8.220

-26,0

-35,3

1.528

561

-80,0

-80,2

-61,7

-67,0

Gạo nếp

604.394

287.597

58,9

51,9

141.060

63.454

-16,4

-19,0

139,1

110,2

10% tấm

478.328

227.674

62,3

53,9

104.933

47.291

-24,3

-26,1

125,0

98,2

100% tấm

53.379

23.695

150,0

153,2

21.200

9.246

58,5

56,8

371,1

353,8

5% tấm

20.009

10.300

-27,4

-24,5

5.488

2.610

18,3

3,7

1.215,0

992,2

15% tấm

12.700

6.092

2.440,0

2.268,7

1.050

446

-50,0

-51,2

 

 

Gạo thơm

426.074

215.432

-17,5

-17,9

157.749

78.665

64,5

61,8

11,7

11,7

5% tấm

373.798

190.786

-11,9

-12,2

139.052

70.214

61,3

59,9

42,9

44,9

100% tấm

13.160

4.782

0,4

0,9

9.108

3.293

787,7

742,1

128,2

123,0

3% tấm

10.315

5.662

-69,2

-67,8

3.200

1.800

116,0

120,8

-87,6

-86,7

2% tấm

6.022

3.239

2,6

3,1

2.476

1.313

33,0

31,7

1,7

-2,0

4% tấm

1.121

624

-61,0

-61,5

313

176

30,3

35,7

-15,9

-13,4

Gạo lứt

43.367

29.575

183,8

352,9

11.881

9.697

-36,6

-37,0

178,4

441,5

10% tấm

11.111

3.722

 

 

 

 

 

 

 

 

5% tấm

954

504

-76,2

-72,2

156

84

-16,1

-20,0

-80,9

-77,2

4% tấm

2

2

-100,0

-100,0

 

 

 

 

 

 

Gạo đồ

6.278

2.452

58,7

66,1

2.655

1.041

243,7

224,7

93,6

92,0

5% tấm

6.272

2.448

70,0

78,6

2.649

1.037

242,9

223,7

93,9

92,2

Tổng

2.357.857

1.050.394

1,0

0,2

577.471

257.624

7,3

2,3

75,9

65,4

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan

Đối với mặt hàng điều: 6 tháng đầu năm 2017 sản lượng xuất khẩu mặt hàng này cũng giảm khi chỉ đạt 149.000 tấn (giảm 4,7% về khối lượng) nhưng vẫn tăng 20,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016 (đạt 1,45 tỷ USD). Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2017 đạt 9.562 USD/tấn, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Đối với mặt hàng cao su: Xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 6/2017 đạt khoảng 80 nghìn tấn, trị giá 127 triệu USD, so với tháng 5/2017 tăng 31,2% về lượng và 24,6% về trị giá, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái lại giảm 2,5% về lượng và tăng 17,5% về trị giá. Tính đến hết tháng 6/2017, xuất khẩu cao su của nước ta đạt 442 nghìn tấn, trị giá 835 triệu USD, tăng 0,4% về lượng và tăng 52,9% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong 5 tháng đầu năm 2017, cao su tổng hợp đứng đầu về chủng loại cao su xuất khẩu của Việt Nam với tỷ trọng lên tới 51,3% tổng khối lượng cao su xuất khẩu, với khối lượng đạt 185,89 nghìn tấn, trị giá 368,84 triệu USD, so với cùng kỳ năm ngoái tăng 18,7% về lượng và tăng 92,3% về trị giá.

Xuất khẩu cao su tổng hợp tăng là do các nhà nhập khẩu Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh nhập khẩu mặt hàng này từ Việt Nam trong những tháng đầu năm nay. Số liệu thống kê cho thấy, có đến 98% lượng cao su tổng hợp của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Nguyên nhân khiến Trung Quốc đẩy mạnh nhập khẩu cao su tổng hợp của Việt Nam một phần là do nhu cầu tiêu thụ cao su của nước này có xu hướng tăng. Bên cạnh đó là tác động từ việc Chính phủ Trung Quốc tiếp tục áp dụng thuế suất ưu đãi đối với mặt hàng cao su tổng hợp trong năm 2017, chính điều này khiến các đơn vị nhập khẩu cao su của Trung Quốc đẩy mạnh nhập khẩu cao su tổng hợp để được hưởng những ưu đãi về thuế.

Giá xuất khẩu các mặt hàng cao su chủ lực của nước ta trong 5 tháng đầu năm nay tăng mạnh từ 50% - 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, giá cao su lại đang có xu hướng giảm khi trong tháng 5/2017 giá các mặt hàng đã giảm từ 10 – 15% so với tháng 4/2017. Trong đó, giá cao su tổng hợp giảm 8,9%, đạt bình quân 1.649 USD/tấn; SVR 3L giảm 12,4%; SVR 10 giảm 13,4%... 

Chủng loại cao su xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2017

(ĐVT: Lượng: tấn; Trị giá: nghìn USD)

Chủng loại

5 tháng năm 2017

So với 5 tháng năm 2016 (%)

Tháng 5/2017

So với tháng 4/2017 (%)

So với tháng 5/2016 (%)

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Cao su tổng hợp

185.897

368.840

18,7

92,3

25.587

42.202

-2,1

-10,9

23,3

47,2

SVR 3L

51.060

106.719

-19,2

31,4

8.906

16.056

3,6

-9,2

0,8

15,4

SVR 10

34.596

63.520

-40,9

-9,9

9.878

15.780

86,1

61,1

4,8

20,2

SVR CV60

24.418

54.502

24,4

109,9

3.655

7.781

0,9

-6,6

31,8

84,2

Latex

22.356

30.231

38,9

119,0

4.243

5.667

148,7

120,4

203,4

276,0

RSS3

19.520

41.012

1,1

59,7

4.641

8.342

52,3

38,6

42,0

62,4

SVR CV50

7.409

16.628

6,6

80,7

1.260

2.608

65,5

50,1

88,6

151,0

Cao su hỗn hợp

6.580

10.521

-44,1

-28,7

821

1.387

-20,6

-15,5

-22,5

-6,9

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan

Ngoài ra, các ngành thủy sản, rau quả vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao. Trong 6 tháng qua, ngành thủy sản đã thu về 3,55 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam lớn nhất. Trong khi đó, ngành hàng rau quả đã tăng tới 50,4% về kim ngạch so với năm 2016 khi đạt 1,75 tỷ USD và dự báo đến hết năm nay, rau quả sẽ mang về hơn 3 tỷ USD.

Chủng loại xuất khẩu chủ lực nhóm trái cây trong tháng 5 và 5T/2017

Chủng loại

T5/2017

So với T4/2017(%)

So với T5/2016(%)

5T/2017

So với 5T/2016(%)

Tỷ trọng(%)

Nghìn USD

Nghìn USD

5T/2017

5T/2016

Tổng

297.429

19,0

95,4

1.084.136

51,0

100

100

Thanh long

111.708

-9,6

43,3

503.882

35,3

46,5

51,9

Sầu riêng

69.245

98,8

545,3

118.032

291,6

10,9

4,2

Nhãn

4.362

-50,5

27,4

114.586

70,2

10,6

9,4

Dưa hấu

5.248

-83,4

33,4

81.508

-13,6

7,5

13,1

Xoài

16.221

-3,2

76,1

67.636

108,2

6,2

4,5

Măng cụt

51.476

789,8

120,5

67.045

106,5

6,2

4,5

Chanh

15.180

39,3

211,4

44.568

161,8

4,1

2,4

Chuối

8.089

0,8

26,9

26.777

4,9

2,5

3,6

Dừa

3.618

-0,9

-14,1

20.549

17,0

1,9

2,4

Mít

1.922

-25,6

113,2

11.516

125,3

1,1

0,7

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan

Với những diễn biến tích cực của thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực như rau quả, cà phê, thủy sản, cao su, hay mới đây nhất là những dấu hiệu khởi sắc ở các thị trường xuất khẩu gạo, dự báo xuất khẩu nhóm nông, thủy sản trong nửa cuối năm 2017 sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá trên 10%, góp phần quan trọng đưa mức tăng trưởng GDP của toàn ngành trong cả năm 2017 đạt mục tiêu 3,05% như kỳ vọng.  

Tuy nhiên, trong trung hạn, Hội thảo Triển vọng thị trường nông nghiệp Việt Nam 2017 được tổ chức vào cuối tháng 5 vừa qua đã tổng kết những vấn đề nổi bật tác động đến thương mại nông sản Việt Nam như sau:

Về bối cảnh vĩ mô, trong thời gian tới sẽ có ba vấn đề nổi bật ảnh hưởng tới thương mại nông sản Việt Nam: Thứ nhất là các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tăng phụ thuộc lẫn nhau trong thương mại toàn cầu, đồng thời tập trung hơn vào phát triển thị trường nội địa; thứ hai là các thị trường phát triển dần bão hòa và tăng bảo hộ; và thứ ba là kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm hơn, chuyển hướng động lực vào tiêu dùng nội địa.

Về dự báo thị trường nông sản quốc tế, có một số xu hướng chủ đạo của 2017 và các năm tới như sau: Tiêu dùng nông sản toàn cầu tiếp tục mở rộng và phát triển theo hướng hàng hóa có giá trị cao hơn; tăng trưởng tiêu dùng sẽ chậm lại so với thập kỷ trước; Trung Quốc, Ấn Độ và châu Phi hạ Sahara thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu; giá nông sản thực tế có xu hướng giảm nhẹ trong dài hạn; tăng trưởng năng suất sẽ là động lực chính cho sản xuất cây lương thực và thức ăn chăn nuôi; tăng trưởng đa dạng theo hướng phát triển chăn nuôi và thủy sản.

Với bối cảnh vĩ mô và thị trường trên, ngành nông nghiệp Việt Nam cần xác định lại động lực chính thúc đẩy ngành nông nghiệp đi lên: tăng năng suất, chất lượng; xác định vị thế của từng ngành hàng nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu để ưu tiên nguồn lực phát triển; xác định lại cơ cấu thị trường cho từng ngành hàng nông sản.

Đối với ngành hàng lúa gạo, xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay bị cạnh tranh gay gắt từ các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ và các nước mới tham gia vào xuất khẩu gạo như Cambodia và Myanmar. Đồng thời, các nước nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam áp dụng các chính sách hạn chế nhập khẩu gạo như Trung Quốc tăng cường siết chặt nhập khẩu gạo qua đường biên giới và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt, trong khi Philippines cố gắng để tự đảm bảo an ninh lương thực. Về xu hướng giá, giá thực tế của lúa gạo có xu hướng giảm trong trung hạn. Trong khi đó, ngành hàng lúa gạo bộc lộ những yếu tố kém bền vững về kinh tế, xã hội, và môi trường. Để phát triển ngành hàng lúa gạo theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị và phát triển bền vững, cần xác định lại cơ cấu thị trường; các vùng chuyên canh; cơ cấu giống; cơ cấu mùa vụ; nghiên cứu phát triển chế biến tinh, chế biến sâu, tận dụng phế phụ phẩm, đa dạng hóa sản phẩm từ lúa gạo.

Đối với ngành thủy sản, sự nổi lên của chính sách bảo hộ trên toàn cầu, biến đổi khí hậu, năng lực quản lý chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu sẽ đặt ra các thách thức cho ngành thủy sản Việt Nam trong cả ngắn và dài hạn. Hơn nữa, do sự hội nhập mạnh mẽ của ngành thủy sản trong thương mại toàn cầu, tính tập trung hóa giá trị gia tăng trong hoạt động chế biến – kinh doanh và thương hiệu, ngành thủy sản đang đòi hỏi toàn bộ các tác nhân trong ngành: từ các nhà làm chính sách, doanh nghiệp, nông dân và cộng đồng nghiên cứu, có tư duy bao trùm và vượt trên quy mô ngành nông nghiệp sản xuất thô.

Đối với ngành rau quả, trong vài năm gần đây, ngành rau quả nổi lên là ngôi sao sáng, giàu tiềm năng của nông nghiệp Việt Nam khi thành tích xuất khẩu liên tục tăng mạnh qua từng năm, đặc biệt là các nhà xuất khẩu Việt Nam đã mở cửa thành công một số thị trường phát triển, giá cao, qua đó tăng cơ hội đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro thị trường. Tuy vậy, ngành rau quả Việt Nam vẫn còn phân tán, chưa được tổ chức hiệu quả và còn non nớt trên các thị trường quốc tế, xét đến sự gia tăng chính sách bảo hộ trong nền kinh tế thế giới, các rào cản phi thuế trong thương mại rau quả và đặc tính thời hạn sử dụng ngắn của rau quả hàng hóa thô. Mặt khác, sự đầu tư mạnh mẽ của khu vực tư nhân, đặc biệt là đầu tư công nghệ cao, và nhu cầu lớn, đa dạng của thị trường nội địa là một thuận lợi đáng kể của ngành rau quả so với các tiểu ngành nông nghiệp khác hiện nay.

Xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản sang thị trường Nga còn nhiều tiềm năng

I. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản tới thị trường Nga

Quan hệ thương mại Việt NamLiên Bang Nga ngày càng phát triển và được nhận định là sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam- Liên minh Kinh tế Á-Âu (có hiệu lực vào ngày 5/10/2016) đã được thực thi.

Nga vốn là thị trường truyền thống của hàng hóa Việt Nam và dễ tính trong khâu tuyển chọn mẫu mã, chất lượng so với nhiều nước châu Âu và một số doanh nghiệp Việt Nam đang hưởng lợi từ ưu thế này.

Thị trường Nga đang rất cần các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như thủy hải sản, bánh kẹo, cà phê, rau củ quả và các mặt hàng như dụng cụ y tế, quần áo, giày dép, chăn màn, đồ gỗ… Mặc dù kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Nga hàng năm không ngừng tăng nhưng nhu cầu từ phía Nga đối với hàng hóa của Việt Nam vẫn rất lớn.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2017, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Nga đạt 33,22 triệu USD, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng tới 38,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính đến hết tháng 5/2017, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Nga đạt 146,63 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện Nga đang là thị trường tiêu thụ nông, thủy sản lớn thứ 13 của Việt Nam, với thị phần chiếm 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam. Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường Nga trong 5 tháng đầu năm nay, nhóm hàng nông, thủy sản chiếm 18,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này.

Kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Nga năm 2016-2017

Trong 5 tháng đầu năm 2017, mặc dù kim ngạch giảm 13,1% song cà phê vẫn đứng đầu về mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu sang thị trường Nga, với kim ngạch đạt 47,64 triệu USD và chiếm 32% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Nga.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch xuất khẩu của hàng loạt các mặt hàng nông, thủy sản khác sang thị trường Nga đều đạt mức tăng trưởng khá cao. Trong đó, mặc dù kim ngạch xuất khẩu gạo sang Nga mặc dù chỉ đạt 5,5 triệu USD nhưng tăng đột biến 662,6% so với 5 tháng năm 2016. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tới Nga tăng 18,2%, hạt điều tăng 40,6%, hàng rau quả tăng 67%...

Xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nga tháng 5 và 5 tháng năm 2017 (ĐVT: Lượng: tấn; Trị giá: nghìn USD)

Tên hàng

Tháng 5/2017

So với tháng 4/2017 (%)

So với tháng 5/2016 (%)

5 tháng năm 2017

So với 5 tháng năm 2016 (%)

Cà phê

10.085

5,4

18,1

47.649

-13,1

Hàng thủy sản

8.822

11,2

85,8

36.060

18,2

Hạt điều

4.069

-4,8

38,1

15.722

40,6

Hàng rau quả

2.250

-21,2

30,7

14.098

67,0

Hạt tiêu

3.899

22,5

49,0

13.655

2,0

Chè

1.925

-5,1

-6,7

10.053

11,9

Gạo

1.434

-23,3

155,9

5.552

662,6

Cao su

743

26,5

-3,6

3.844

-5,3

Tổng

33.228

2,9

38,6

146.634

11,0

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan

Cà phê: Mặc dù giảm khá mạnh trong những tháng đầu năm 2017, nhưng xuất khẩu cà phê sang thị trường Nga đã có sự phục hồi nhẹ trong tháng 5/2017 khi tăng 5,4% so với tháng trước. Bên cạnh đó, thị trường cà phê Nga vẫn được coi là thị trường có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, do đây là đồ uống không thể thiếu trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nga. Theo Tổ chức quốc tế Cà phê (ICO), hàng năm, mỗi một người Nga tiêu thụ gần 2 kg cà phê. Đặc biệt là người Nga thích cà phê hòa tan, với nguyên liệu chính là giống cà phê Robusta — giống chủ yếu được trồng ở Việt Nam. Có khoảng 38% khối lượng xuất khẩu cà phê xanh, được sử dụng để rang và sản xuất cà phê hòa tan tại các xí nghiệp Nga, là cà phê trồng tại Việt Nam.

Tính đến hết năm 2016, Nga là thị trường nhập khẩu cà phê đứng thứ 11 trên thế giới. Mặc dù kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nga có xu hướng giảm trong năm 2015 và năm 2016, nhưng kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nga từ Việt Nam vẫn tăng khá mạnh. Theo thống kê của Intracent, năm 2016 kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nga giảm 5,3% so với năm 2015. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu cà phê từ Việt Nam vẫn tăng mạnh 24,3%, cao nhất trong số các thị trường xuất khẩu cà phê chính tới Nga. Đặc biệt, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ để trở thành nhà cung cấp cà phê lớn nhất vào Nga năm 2016.

Thị phần xuất khẩu cà phê Việt Nam tại Nga cũng có nhiều khởi sắc, năm 2016 Việt Nam chiếm 15,8% tổng kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nga, tăng khá so với thị phần 10% trong năm 2010.

Kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nga từ thế giới giai đoạn 2010-2016

Đơn vị tính: nghìn USD

Thị trường

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2016 so với 2015

Năm 2016 so với 2010 (%)

Thế giới 

959.167

1.209.986

1.247.346

1.261.774

1.300.100

1.222.621

1.157.725

-5,3

20,7

Việt Nam

96.064

121.692

131.557

134.281

162.536

147.280

183.142

24,3

90,6

Ấn Độ

134.404

143.352

142.829

131.716

132.916

153.819

167.137

8,7

24,4

Sri Lanka

239.650

282.169

259.801

251.391

244.791

194.790

161.665

-17,0

-32,5

Brazil

90.689

129.835

104.066

80.469

107.252

94.505

91.184

-3,5

0,5

Trung Quốc

58.596

68.823

74.680

87.361

86.742

84.044

84.138

0,1

43,6

Nguồn: ITC

Thị phần của các nhà cung cấp cà phê vào Nga trong năm 2016

Thị trường

Năm 2010 (%)

Năm 2016 (%)

Việt Nam

10,0

15,8

Ấn Độ

14,0

14,4

Sri Lanka

25,0

14,0

Brazil

9,5

7,9

Trung Quốc

6,1

7,3

Nguồn: ITC

Tham khảo một số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê tiêu biểu sang thị trường Nga 5 tháng năm 2017

Tên doanh nghiệp

Kim ngạch (nghìn USD)

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Cà Phê Outspan Việt Nam

5.457

Công Ty TNHH Comercial Exportadora Việt Nam

4.878

Công ty TNHH Nestlé Việt Nam

4.105

CôNG TY Cổ PHầN TậP ĐOàN INTIMEX

3.449

Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Cà Phê Intimex Nha Trang

2.471

Chi Nhánh Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Intimex Tại Buôn Ma Thuột

2.452

CôNG TY TNHH MộT THàNH VIêN XUấT NHậP KHẩU 2-9 ĐắK LắK

2.266

Công ty TNHH Vĩnh Hiệp

1.858

Công Ty TNHH Dakman Việt Nam

1.780

Công Ty Cổ Phần Tổng Công Ty Tín Nghĩa

1.716

Công Ty Cổ Phần Intimex Bình Dương

1.700

CôNG TY Cổ PHầN INTIMEX ĐắK NôNG

1.528

Công Ty TNHH  Sản Xuất Và Thương Mại Cát Quế

1.485

Công ty TNHH Mercafe Việt Nam

1.444

CôNG TY TRáCH NHIệM HữU HạN OLAM VIệT NAM

1.419

Công Ty TNHH Sunwah Commodities (Việt Nam)

1.300

(Số liệu thống kê sơ bộ, chỉ dùng để tham khảo)

Hàng thủy sản: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nga tăng khá mạnh trong 5 tháng đầu năm 2017 chủ yếu là do nhu cầu thủy sản của Nga có xu hướng tăng trở lại trước sự phục hồi của nền kinh tế nước này. Bên cạnh đó, xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang Nga còn được hưởng lợi từ việc cắt giảm thuế quan theo FTA Việt Nam-EAEU.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay đối với thủy sản Việt Nam chính là yêu cầu kiểm tra, kiểm dịch, an toàn thực phẩm theo yêu cầu của Nga chưa minh bạch, khiến doanh nghiệp rất khó khăn. Cụ thể, một số nội dung của các rào cản kỹ thuật và kiểm định vẫn áp dụng theo tiêu chuẩn Liên Xô (cũ) mà không giống như tiêu chuẩn hiện hành của các nước Nhật Bản, Hoa Kỳ hay EU. Sự khác biệt về các tiêu chuẩn kỹ thuật này sẽ là thách thức lớn cho doanh nghiệp Việt trong quá trình sản xuất cũng như xuất khẩu. Thậm chí nhiều doanh nghiệp không có cách nào để vào thị trường Nga.

Tham khảo doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tiêu biểu sang thị trường Nga 5 tháng năm 2017

Tên doanh nghiệp

Kim ngạch (nghìn USD)

Doanh Nghiệp Tư Nhân Anh Long

9.849

Công Ty TNHH Hải Vương

6.307

Công Ty TNHH HùNG Cá

3.477

Công Ty TNHH Hùng Vương-Vĩnh Long

2.564

Công Ty TNHH Chế Biến Thủy Sản Minh Quí

1.972

Công Ty CP Tập Đoàn Thủy Sản Minh Phú

1.637

Công Ty TNHH Ngọc Tuấn Surimi

1.455

Công Ty Cổ Phần Thủy Sản Minh Hải

1.347

Công Ty CP Chế Biến Và Dịch Vụ Thủy Sản Cà Mau

1.079

Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Thủy Hải Sản Sài Gòn

942

Công Ty Cổ Phần Hùng Vương

875

CôNG TY CP CHế BIếN THủY HảI SảN HIệP THANH

696

CôNG TY Cổ PHầN THủY SảN TâM PHươNG NAM

580

Cty Cổ Phần Chế Biến XNK Thủy Sản Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

574

Công Ty Cổ Phần Thuỷ Sản Và Xuất Nhập Khẩu Côn Đảo

360

Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Chế Biến Thuỷ Sản Tiến Đạt

359

Công Ty TNHH Baseafood 1

327

Công Ty TNHH Tín Thịnh

260

Công Ty Cổ Phần Thủy Sản Mekong

252

(Số liệu thống kê sơ bộ, chỉ dùng để tham khảo)

II. Nhận định và dự báo

- Thuận lợi

+ Cơ quan thống kê quốc gia Nga (Rosstat) cho biết GDP trong quý I/2017 của Nga đã tăng 0,5%, trong bối cảnh nền kinh tế của nước này dần phục hồi. Con số trên cao hơn so với dự báo tăng trưởng 0,4% mà Chính phủ Nga đã đưa ra trước đó. Các chuyên gia nhận định, nền kinh tế Nga sẽ tiếp tục tăng trưởng trong các tháng và quý tới, do lạm phát thấp và chính sách tiền tệ nới lỏng hơn đang thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng. Chính phủ Nga cũng dự báo tăng trưởng kinh tế Nga sẽ đạt mức tăng 2% trong năm 2017.

+ Thị trường Nga được đánh giá là “rất hấp dẫn” với dân số 143,5 triệu người, thu nhập bình quân đầu người khoảng 14.611 USD/năm, trong đó tầng lớp trung lưu ngày một phát triển (chiếm từ 10-25%). Nga được đánh giá là thị trường tiêu dùng và bán lẻ rộng lớn, đa dạng về hàng hóa nhập khẩu, đồng thời là thị trường đầy tiềm năng cho xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam như thủy hải sản, cà phê, chè, rau, củ, quả tươi, sản phẩm đông lạnh, may mặc, nhựa, cao su, chất dẻo...

+ Nga vốn là thị trường truyền thống của hàng hóa Việt Nam và “dễ tính” trong khâu tuyển chọn mẫu mã, chất lượng so với nhiều nước châu Âu và một số doanh nghiệp Việt Nam đang hưởng lợi từ ưu thế này.

+ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á-Âu (FTA Việt Nam-EAEU) có hiệu lực từ 5/10/2016 và Nga là thị trường lớn nhất trong khối này. Ngay sau khi FTA Việt Nam-EAEU được thực thi, 90% dòng thuế của hai bên sẽ được tự do hóa, tương đương 90% kim ngạch thương mại song phương. Điều đáng lưu ý là những hàng hóa lợi thế của Việt Nam khi xuất khẩu vào Nga đều đạt được những điều kiện thuận lợi như thủy sản Việt Nam đã đạt được gần như 100% khối lượng các mặt hàng xuất đi được hưởng thuế suất bằng 0.

+ Đặc biệt, cơ hội mở ra cho hàng nông sản Việt Nam khi Nga gia hạn lệnh cấm vận nông sản từ châu Âu tới cuối năm 2017. Đây sẽ là cơ hội tốt cho Việt Nam tiếp tục tăng xuất khẩu các mặt hàng này sang thị trường Nga trong năm 2017.

- Khó khăn

Khi đưa hàng hóa Việt Nam sang Nga, các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn liên quan tới phương thức thanh toán, tỷ giá, một số vấn đề pháp lý, cũng như khoảng cách địa lý giữa 2 nước khiến giá thành bị đội lên khó cạnh tranh với các quốc gia khác có lợi thế tương tự về chủng loại hàng hóa và mẫu mã.

Sản phẩm nông sản, thủy sản của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt về giá cả, mẫu mã, bao bì, chất lượng, vận chuyển với các quốc gia khác có nguồn cung sản phẩm tương tự tại thị trường Nga.

Đặc biệt, việc thanh toán giữa doanh nghiệp 2 nước còn gặp nhiều khó khăn do hệ thống chuyển đổi đồng Rúp và đồng Việt Nam chưa thuận tiện, các ngân hàng của Nga không dễ cho mở L/C, đồng thời phí mở L/C rất đắt. Các doanh nghiệp Nga thường chọn phương thức thanh toán trả chậm dẫn đến nhiều công ty phải đối mặt với các khoản nợ khó đòi từ các đối tác Nga…

Dự báo:

Xuất khẩu hàng nông, thủy sản của Việt Nam tới thị trường Nga được dự báo sẽ tăng mạnh hơn trong thời gian tới do nhu cầu về hàng nông, thủy sản của Nga được dự báo sẽ tăng do tăng trưởng khả quan của nền kinh tế Nga, cùng với đó là những thuận lợi từ FTA Việt Nam-EAEU trong đó có nhiều ưu đãi về thuế quan đối với hàng nông, thủy sản của Việt Nam. Dự báo trong năm 2017, xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nga tăng 16% so với năm 2016, đạt 403,5 triệu USD.

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông, thủy sản sang Nga

Để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Nga, các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu các quy tắc, luật lệ của các nước đối tác, bởi mỗi nước có những đặc điểm riêng, có hàng rào kỹ thuật riêng. Những rủi ro trong thanh toán từ các nước SNG nói chung đã giảm đi, nhưng vì nhiều lý do mà việc thanh toán bằng ngoại tệ như EUR, USD vẫn còn khó khăn…Điều quan trọng nhất là doanh nghiệp Việt Nam cần có chiến lược, có cam kết mạnh mẽ về chất lượng hàng Việt nhưng giá cả phải cạnh tranh.

Các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ phong tục tập quán tiêu dùng, để đưa tới hàng hóa phù hợp; đặc biệt phải tìm hiểu rõ Luật Ngoại kiều của Nga nhằm tránh vi phạm luật. Cách tốt nhất là tìm kiếm và gắn kết với hệ thống các nhà phân phối và doanh nghiệp theo dạng B2B (doanh nghiệp tới doanh nghiệp) để tìm chỗ đứng vững chắc cho hàng hóa. Mức tiêu thụ cũng như thu nhập của người dân Nga đã cao hơn, do vậy nhu cầu đòi hỏi chất lượng hàng hóa cũng cao hơn, do đó chất lượng cần phải được nâng cao.

Xuất khẩu nông, thủy sản sang Nhật Bản tăng khá

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục hải quan, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản sang thị trường Nhật Bản 5 tháng năm 2017 đạt gần 641 triệu USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng, tháng 5/2017 xuất khẩu sang thị trường này đạt 157,1 triệu USD, tăng 12,5% so với tháng 4/2017 và tăng 31,8% so với tháng 5/2016.

Kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam tới Nhật Bản  2016-2017

Trong 5 tháng đầu năm 2017, các mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản gồm 7 mặt hàng chính là: các mặt hàng thủy sản, cao su, hàng rau quả, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn và các sản phẩm về sắn.

Đối với mặt hàng thủy, hải sản:

Nhật Bản hiện là quốc gia nhập khẩu thủy sản lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ và đứng đầu Châu Á và cũng là quốc gia có mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người cao nhất thế giới (67kg/người/năm). Kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản năm 2016 đạt 13,59 tỷ USD, tăng 4,45% so với năm 2015. Nguồn cung của Nhật Bản khá đa dạng với các sản phẩm thủy sản nhập khẩu từ 123 quốc gia khác nhau.

Trong một thập kỷ qua, Nhật Bản luôn là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam với tỷ trọng ổn định ở mức trên dưới 20% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu.

Tính hết tháng 5/2017, hàng thủy sản hiện là mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản, chiếm 73,9% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đạt 473,7 triệu USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng, tháng 5/2017 xuất khẩu mặt hàng này đạt 114,6 triệu USD, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 38,2% so với tháng 5/2016.

Kết quả trên đã đưa nước này vượt qua Mỹ và EU, trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam.

Nguyên nhân là do đồng Yên của Nhật tăng giá nên doanh nghiệp tôm trong nước chuyển sang khai thác mạnh ở thị trường này. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sang Mỹ lại giảm do giá tôm nguyên liệu tăng mạnh và ảnh hưởng của thuế chống bán phá giá. Với thị trường EU, xuất khẩu cá tra sang đây sụt giảm mạnh là lý do chính khiến kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường châu Âu tiếp tục sụt giảm.

Đối với mặt hàng cà phê:

Kim ngạch xuất khẩu cà phê 5 tháng đầu năm 2017 sang thị trường Nhật Bản đạt 95,4 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng, tháng 5/2017 xuất khẩu mặt hàng này đạt 23,4 triệu USD, tăng 33,2% so với tháng trước và tăng 12,4% so với tháng 5/2016.

Robusta là chủng loại được xuất khẩu lớn nhất trong 5 tháng chiếm 90,4% tổng lượng cà phê xuất khẩu sang thị trường này, đạt 36,6 nghìn tấn, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến, xuất khẩu cà phê hòa tan Arabica với 2,46 nghìn tấn, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2016. Ngoài ra, xuất khẩu cà phê hòa tan và cà phê Excelsa đạt khối lượng thấp lần lượt 1,42 nghìn tấn và 12 tấn.

Giá xuất khẩu cà phê sang thị trường Nhật Bản trong 5 tháng năm nay đạt 2.310 USD/tấn, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong thời gian tới sẽ tiếp tục thuận lợi do người tiêu dùng Nhật sử dụng nhiều hơn, khí hậu Nhật Bản không phù hợp với cây cà phê vì vậy, họ phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu cà phê sang thị trường này trong năm 2017 cần tiếp tục kiểm soát tốt chất lượng và các khâu an toàn vệ sinh thực phẩm vì Nhật Bản sẽ kiểm soát chất lượng cà phê nhập khẩu gắt gao hơn. Bên cạnh đó, người tiêu dùng Nhật Bản còn quan tâm đến các mặt hàng có thương hiệu.

Theo thống kê của Intracent, kim ngạch nhập khẩu cà phê của Nhật Bản từ Việt Nam 4 tháng năm 2017 đạt 67,5 triệu USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm 2016.

4 tháng năm 2017 thị phần nhập khẩu cà phê của Nhật Bản từ Việt Nam đã tăng lên 13% so với mức 10,4% của tháng 4 tháng năm 2016. Trong khi đó, thị phần nhập khẩu cà phê của Nhật Bản từ một số nước lớn giảm như: Braxin, Guatemala...

Mặt hàng rau quả:

Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả 5 tháng đầu năm 2017 sang thị trường Nhật Bản đạt 43,3 triệu USD, tăng 56,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng, tháng 5/2017 xuất khẩu mặt hàng này đạt 11,8 triệu USD, tăng 30% so với tháng trước và tăng 72% so với tháng 5/2016.

Xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản tăng trên 56%. Đây được đánh giá là thị trường tiềm năng song Nhật Bản hiện chỉ mới cho phép nhập khẩu một số loại quả tươi có hạt của Việt Nam là chuối, xoài và thanh long (ruột trắng, ruột đỏ) được nhập khẩu vào nước này.

Trên thực tế, Nhật Bản là một trong những nước đang áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm có yêu cầu rất cao. Các tiêu chuản của Nhật Bản hầu như tương đương, thậm chí cao hơn cả những tiêu chuẩn quốc tế thông thường. Đáng chú ý, các tiêu chuẩn chất lượng này được áp dụng phù hợp với nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tức là không mang tính phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và nhập khẩu.

Các mặt hàng rau quả của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chỉ chịu sự điều chỉnh về thuế nhập khẩu và các biện pháp vệ sinh kiểm dịch. Hiện nay, Nhật Bản chỉ cho phép nhập khẩu một số loại quả tươi có hạt của Việt Nam là chuối, xoài và thanh long (ruột trắng, ruột đỏ) được nhập khẩu vào nước này do đã đáp ứng được các yêu cầu trong Luật Kiểm dịch thực vật của Nhật Bản.

Nhật Bản vẫn được đánh giá là nước có yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì thế, muốn nắm bắt được cơ hội này thì việc đáp ứng “tiêu chuẩn cao” là điều kiện tiên quyết. Việc đáp ứng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của Nhật Bản là yêu cầu bắt buộc với mọi nhà nhập khẩu. Hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng phải đáp ứng được nếu muốn thâm nhập vào thị trường này.

Các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2017  (ĐVT: nghìn USD)                                      

Tên hàng

5 tháng năm 2017

% so 5 tháng năm 2016

Tháng 5 năm 2017

% so tháng 4 năm 2017

% so tháng 5 năm 2016

Tổng

640.998

27,8

157.149

12,5

31,8

Hàng thủy sản

473.703

32,2

114.660

6,9

38,2

Cà phê

95.445

19,4

23.414

33,2

12,4

Hàng rau quả

43.296

56,1

11.831

30,0

72,0

Hạt điều

10.381

35,6

3.852

144,3

153,4

Cao su

9.062

53,7

1.470

-33,0

-0,5

Hạt tiêu

8.443

-21,1

1.922

-1,0

28,9

Sắn và các sản phẩm từ sắn

667

-94,0

0

 

 

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan

- Danh sách doanh nghiệp xuất khẩu theo mặt hàng.

Một số doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủy sản đạt kim ngạch lớn sang Nhật Bản 5T năm 2017 (ĐVT: nghìn USD)

Doanh Nghiệp

Trị giá

Cty CP Thủy Sản Minh Phú Hậu Giang

35.220

Cty CP Tập Đoàn Thủy Sản Minh Phú

25.443

Cty CP Thực Phẩm XK Trung Sơn Hưng Yên

17.062

Cty CP Hải Việt

16.827

Cty CP Thực Phẩm Sao Ta

16.686

Cty CP Thực Phẩm Trung Sơn

15.413

Cty TNHH Chế Biến & XK Thủy Sản CAM RANH

15.224

Cty CP XNK Thủy Sản Miền Trung

12.003

Cty CP Thủy Sản Cổ Chiên

11.622

Cty TNHH KD Chế Biến Thủy Sản Và XNK Quốc Việt

10.772

Cty TNHH hải sản Thanh Thế

9.133

Cty TNHH THủY SảN ĐôNG HảI

8.453

Cty TNHH Hải Nam

8.175

Cty CP Sài Gòn FOOD

7.879

Cty CP Thủy Sản Sạch Việt Nam

7.870

Cty CP Thực Phẩm Gn

7.300

Cty TNHH thực phẩm XK Nam Hải

6.970

Cty CP Chế Biến Thủy Sản Tài Kim Anh

6.675

Cty CP Thủy Sản Thông Thuận Cam Ranh

6.489

Cty TNHH Thực Phẩm Amanda (Việt Nam).

6.105

Số liệu thống kê sơ bộ, chỉ dùng để tham khảo

Một số doanh nghiệp xuất khẩu hàng cà phê đạt kim ngạch lớn sang Nhật Bản 5 tháng năm 2017  (ĐVT: nghìn USD)

Đơn vị

Trị giá

Cty TNHH 1TV XNK 2-9 ĐắK LắK

17.796

Cty Cổ Phần Intimex Mỹ Phước

14.072

Cty Cổ Phần INTIMEX ĐắK NôNG

8.923

CN Cty TNHH Cà Phê Vĩnh An Tại Đồng Nai

7.727

Cty TNHH Cà Phê Outspan Việt Nam

7.081

Cty TNHH Dakman Việt Nam

6.752

Cty Cổ Phần XNK Cà Phê Intimex Nha Trang

6.124

Cty TNHH Thương Phẩm ATLANTIC Việt Nam

5.621

Cty TNHH OLAM Việt Nam

3.550

Cty TNHH Sản Xuất Và Thương Mại Cát Quế

3.452

Cty TNHH Cà Phê Hà Lan Việt Nam

2.388

CN Cty Cổ Phần Tập Đoàn Intimex Tại Buôn Ma Thuột

2.385

Cty TNHH INSTANTA Việt Nam

1.198

Cty TNHH Hồ Phượng

1.016

Cty TNHH Như Tùng

956

Cty TNHH 1TV Cà Phê Thắng Lợi

808

Cty TNHH NEUMANN GRUPPE Việt Nam

649

Cty Cổ Phần Intimex Bình Dương

600

Số liệu thống kê sơ bộ, chỉ dùng để tham khảo

Top 30 doanh nghiệp xuất khẩu hàng hàng rau quả đạt kim ngạch lớn sang Nhật Bản 5T năm 2017 (ĐVT: nghìn USD)

Đơn vị

Trị giá

Cty TNHH Đà LạT HASFARM

 7.695

Cty TNHH TM Xnk Quảng An

 6.918

Cty Cổ Phần Thủy Sản Bạc Liêu

 6.802

Cty Cổ Phần Thực Phẩm Sao Ta

 2.312

Cty TNHH Thực Phẩm Đà LạT- Nhật Bản

 2.265

Cty TNHH Chế Biến Thực Phẩm Hàng Ngày Đà Lạt

 1.999

Cty Phát Triển Kinh Tế Duyên Hải (Cofidec)

 1.979

Cty TNHH HATCHANDO Việt Nam

 1.411

Cty TNHH MTV TM Đắc Vinh Danh

 1.240

Cty TNHH PACIFIC

 1.175

Cty TNHH APOLLO

 1.072

Cty TNHH Thực Phẩm ASUZAC

 1.028

Cty Cổ Phần Thực Phẩm Dân ôn

 899

Cty CP Chế Biến Thực Phẩm Xuất Khẩu Miền Tây

 767

Cty TNHH  Thực Phẩm Quốc Tế GIAVICO

 713

Cty TNHH Thụy Hồng Quốc Tế

 643

Cty TNHH Thực Phẩm Asuzac Đà Lạt

 608

Cty CP Nông Sản Thực Phẩm Lâm Đồng

 572

Cty TNHH Chế Biến Trái Cây Yasaka

 553

Cty Cổ Phần Chế Biến Thực Phẩm Đà Lạt Tự Nhiên

 528

Nguồn: Số liệu thống kê sơ bộ, chỉ dùng để tham khảo

3. Đánh giá triển vọng, dự báo và đề xuất

- Những thuận lợi xuất khẩu hàng nông, thủy sản sang thị trường Nhật Bản hiện nay:

Hiện nay xuất khẩu hàng nông thủy sản của Việt Nam tới Nhật đang mở rộng, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường Nhật Bản. Có được điều này là từ ba lý do chính sau: 

Thứ nhất: Sự hỗ trợ của Hiệp định Đối tác kinh tế Việt – Nhật. Thời gian qua, Việt Nam và Nhật Bản đã ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế quan trọng như Hiệp định Đối tác kinh tế Việt - Nhật (VJEPA) được triển khai đồng bộ vào năm 2010 đến nay. Điểm quan trọng của thỏa thuận này là việc giảm thuế mạnh mẽ các mặt hàng nông thủy sản xuất khẩu vào Nhật Bản như trong số 2.020 dòng thuế nông sản, Nhật Bản đã xóa bỏ ngay đối với 784 dòng, chiếm 36% tổng số dòng thuế nông sản và chiếm 67,6% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam. Theo lộ trình VJEPA, đến năm 2020 sẽ có trên 800 dòng sản phẩm nông thủy sản Việt Nam vào Nhật với thuế suất 0%.

Thứ hai: Sự ưa chuộng nông thủy sản nhiệt đới của thị trường Nhật. Do sự khác biệt giữa các mùa vụ, khác biệt về chủng loại rau quả do khác biệt về vùng khí hậu, sở thích của người Nhật đối với hoa quả có vị ngọt và đặc biệt là hiện nay nhận thức của người tiêu dùng với lợi ích sức khỏe của họ nên các mặt hàng như chuối, dứa, đu đủ, xoài và bơ của Việt Nam rất được thị trường Nhật Bản ưa chuộng. 

Thứ ba: Nhu cầu nhập khẩu nông thủy sản của Nhật gia tăng. Nhu cầu về mặt hàng nông thủy sản của Nhật ngày càng tăng do tỷ lệ nông nghiệp ngày càng nhỏ đi trong cơ cấu GDP của Nhật, từ gần 13% năm 1960 xuống chỉ còn hơn 1% năm 2012. Do vậy, tỷ lệ đảm bảo tự cấp lương thực ở Nhật cũng giảm mạnh trong nhiều năm qua. Gần đây, Nhật đã nới lỏng hơn một số tiêu chí về dư lượng kháng sinh đối với gạo nhằm tăng lượng nhập khẩu gạo so với trước đây. Ngoài ra, việc Nhật Bản tham gia đàm phán Hiệp ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ làm giảm đáng kể các mức thuế cao mà Nhật hiện đang áp dụng với một số mặt hàng nhập khẩu như 778% đối với gạo, 328% với đường và 218% với sữa bột.

- Thách thức và khó khăn:

+ Mặt hàng thủy sản

Trong 5 tháng đầu năm nay, giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam tăng mạnh trở lại, trong đó có thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, mức thuế chưa hợp lý khi xuất sang Nhật Bản buộc Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) và doanh nghiệp tìm giải pháp để tăng xuất khẩu sản phẩm sang thị trường này.

Một trong những điểm sáng là xuất khẩu mặt hàng cá ngừ hồi phục trở lại và đạt giá trị xuất khẩu 216 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, giá trị tăng là nhờ vào hai mặt hàng cá ngừ chế biến đóng hộp và cá ngừ đông lạnh, còn cá ngừ dùng để làm các món ăn sushi không đáng kể.

Nhật Bản là một trong 8 thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, một trong những khó khăn của cá ngừ Việt Nam là đang bị áp thuế cao hơn các nước trong khu vực là Thái Lan và Philippines.

Vì thế, VASEP đã kiến nghị Bộ chủ quản làm việc với phía Nhật Bản để đưa mức thuế nhập khẩu các sản phẩm cá ngừ từ Việt Nam về 0% như hai quốc gia nói trên. Hiện tại, cá ngừ đóng hộp của Việt Nam đang chịu mức thuế 6,4% tại thị trường Nhật Bản, mức thuế này khiến cá ngừ đóng hộp của Việt Nam không thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của Thái Lan.

THÔNG TIN XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI

Hưng Yên xây dựng và giữ gìn nhãn hiệu, thương hiệu cho nông sản

Để nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng sức cạnh tranh trên thị trường, trong những năm qua, ngành chức năng, các địa phương cùng nông dân tỉnh Hưng Yên chung sức xây dựng, phát huy nhãn hiệu, thương hiệu cho nông sản của tỉnh. Một số nông sản của tỉnh có sức cạnh tranh tốt trên thị trường, ngày càng khẳng định uy tín với người tiêu dùng, qua đó tạo đà cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển.

Theo thông tin từ Sở Khoa học và Công nghệ, đến nay Hưng Yên có 7 sản phẩm/nhóm sản phẩm nông nghiệp đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) công nhận nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận nông sản (nhãn hiệu cộng đồng), gồm: Nhãn lồng Hưng Yên; mật ong, hoa nhãn Hưng Yên; chuối tiêu hồng Khoái Châu; quất cảnh Văn Giang; gà Đông Tảo Khoái Châu; vải lai chín sớm Phù Cừ; tương Bần. Việc cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận nông sản đã giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên, của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó, đồng thời tạo cơ sở pháp lý giúp các hộ trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh yên tâm hơn trong sản xuất, bảo tồn, nhân giống, đầu tư kinh doanh, tạo sự đồng nhất và nâng cao chất lượng sản phẩm. 

Nhãn lồng, một trong những đặc sản nổi tiếng của tỉnh được trồng nhiều ở các huyện: Khoái Châu, Tiên Lữ và thành phố Hưng Yên. Trước đây, phần lớn người trồng nhãn chưa hiểu hết giá trị của việc xây dựng nhãn hiệu, trình độ thâm canh còn hạn chế, không đồng đều, diện tích cây nhãn cho quả ngon chiếm tỷ lệ thấp, nằm rải rác ở các hộ; việc quảng bá, giới thiệu ít được quan tâm... Trước thực trạng trên, Sở Khoa học và Công nghệ đã xây dựng "vườn bảo tồn gen giống nhãn lồng", nhân và cung cấp cây giống đạt tiêu chuẩn cho nông dân, tổ chức các cuộc vận động cải tạo vườn nhãn tạp, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, sản xuất giống, chăm sóc, điều tiết cho nhãn ra hoa đậu quả... Hơn 10 năm trước, Hội nhãn lồng tỉnh được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể nhãn lồng Hưng Yên, từ đó nhãn lồng được quảng bá rộng rãi hơn.

Từ khi nhãn lồng được chứng nhận nhãn hiệu tập thể, các thành viên trong Hội nhãn lồng của tỉnh đã tự giác tuân thủ những quy trình sản xuất, thường xuyên kiểm tra chéo lẫn nhau, bảo đảm các tiêu chí chất lượng của quả nhãn lồng. Nhãn lồng có thương hiệu, hàng năm cứ đến mùa nhãn, khách hàng trong và ngoài tỉnh đến tận vườn của các hội viên đặt mua với giá cao gấp 1,5 – 2 lần so với giá bán nhãn ở thị trường.

Trong năm 2016, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Hưng Yên vừa hoàn thành dự án "Xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên". Mục tiêu của dự án nhằm duy trì, bảo tồn và phát triển lâu dài loài cây đặc sản này, để tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn có thương hiệu và sức cạnh tranh cao. Dự án được triển khai từ năm 2016, đã xác định được bản đồ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên với diện tích 3.500 ha.

Giới hạn vùng phân bố chỉ dẫn địa lý được xác định gồm 64 xã, phường, thị trấn thuộc các huyện Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ và thành phố Hưng Yên. Đây là những khu vực trồng nhãn tập trung, chất lượng tốt của toàn tỉnh. Theo đó, dự án đã xây dựng được cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ việc đăng ký chỉ dẫn địa lý Hưng Yên cho sản phẩm nhãn lồng với các đặc điểm về hình thái và chất lượng của loại cây đặc sản này.

Trong đó, nhãn Hưng Yên được chia thành 3 nhóm chính: Chín sớm, chính vụ và chín muộn. Qua khảo sát, hầu hết các chỉ tiêu hình thái, chất lượng quả của nhãn Hưng Yên như: Trọng lượng, chiều cao, đường kính, độ dày cùi, độ đường, mẫu mã đều có đặc thù và giá trị lớn hơn so với các giống nhãn khác ở Hà Nội, Bắc Giang, Sơn La.

Hiện nhãn Hưng Yên đang chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch. Trong đó, diện tích nhãn được cấp mã vùng để xuất khẩu sang Mỹ đang được các chủ vườn chăm sóc kỹ lưỡng để chờ ngày xuất ngoại vào trung tuần tháng 8/2017.

Tại các vùng trọng điểm nhãn ở Hưng Yên hiện có 2 mã vùng được cấp để xuất khẩu với diện tích 20 ha của 175 hộ trồng nhãn ở xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu và xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên. Theo các hộ nông dân, khoảng hơn 20 ngày nữa diện tích này sẽ cho thu hoạch. Các hộ tham gia đã được tập huấn và hỗ trợ kinh phí thuốc bảo vệ thực vật và túi bảo quản nhãn.

Từ khi được cấp mã vùng đến nay, quy trình sản xuất được giám sát chặt chẽ, dịch hại trên cây nhãn được theo dõi và phòng trừ kịp thời, đúng kỹ thuật, đảm bảo để quả nhãn phát triển tốt. Các hộ tham gia vùng nhãn xuất khẩu đều tích cực thực hiện các qui trình sản xuất theo hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, nhãn sai quả, đồng đều, mã đẹp. Bà con nông dân đang tập trung chăm sóc theo qui trình VietGAP, áp dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, đặc biệt là sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học để tạo sản phẩm an toàn. Xác định đây là bạn hàng rất quan trọng nên nhiều hộ dân đã đầu tư những nguồn phân cao cấp từ các loại phân vô cơ, hữu cơ, ngày công chăm sóc cũng cao và cẩn thận hơn.

So với cách làm truyền thống, làm nhãn xuất khẩu khó và vất vả hơn nhiều. Người dân phải tỉa cành thoáng hơn, nếu cây nhãn đậu sai phải định chùm cắt bỏ những chùm xấu. So với truyền thống, năng suất nhãn làm xuất khẩu sẽ bị giảm đi nhưng mẫu mã sản phẩm đẹp hơn. Theo các chủ vườn, nhãn xuất khẩu có năng suất ước đạt khoảng 10 tấn/ha.

Để siết chặt hơn nữa quy trình sản xuất nhãn đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, các cơ quan chuyên ngành của tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tích cực bám sát các nhà vườn để hướng dẫn, khuyến cáo người dân trồng nhãn các biện pháp kỹ thuật, qui định để đạt được mục tiêu đề ra. Tại các xã Hàm Tử và Hồng Nam, cán bộ Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã khuyến cáo nông dân cần lựa chọn những cây nhãn cho chất lượng quả, trên cây cũng cần tùy chọn từng chùm, những chùm quả to, mẫu mã đẹp để bao trái bằng túi an toàn sinh học.

Hiện nay, huyện Khoái Châu và thành phố Hưng Yên đã nhập túi bao trái an toàn sinh học để phát cho người dân triển khai bảo quản khi nhãn chín, hướng dẫn các hộ cách bao bọc toàn bộ các chùm nhãn quả trước khi thu hoạch theo đúng quy trình phía Mỹ yêu cầu. Đồng thời, các đơn vị chức năng xây dựng kế hoạch chi tiết từ nay đến cuối vụ để phân công, chỉ đạo chặt chẽ trong việc thực hiện như: Bao quả trước khi thu hoạch 21 ngày, phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong quả nhãn trước khi thu hoạch 7 ngày, giám định đối tượng kiểm dịch thực vật trước khi thu hoạch 10 ngày nhằm đảm yêu cầu của thị trường khó tính như Mỹ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhãn.

Hiện Sở Công Thương Hưng Yên và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp chuẩn bị tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, tiếp cận các doanh nghiệp có kinh nghiệm xuất khẩu hoa quả ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để quảng bá, tạo điều kiện để mở rộng thị trường nhãn xuất khẩu.

Hàng năm, huyện đầu tư hàng trăm triệu đồng hỗ trợ các địa phương, nông dân quảng bá nông sản thông qua các hội chợ thương mại, hoạt động xúc tiến thương mại, tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện truyền thông.

Mật ong hoa nhãn Hưng Yên là nhãn hiệu chứng nhận được Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản tỉnh Hưng Yên đối với sản phẩm mật ong được sản xuất từ các vùng nhãn thuộc huyện Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, thành phố Hưng Yên.

Mật ong hoa nhãn có mùi hương hoa nhãn đặc trưng. Nuôi ong tai Hưng Yên mỗi năm mang lại lợi nhuận 1,2 - 2,5 triệu đồng/đàn ong. Toàn Hưng Yên có khoảng 10.000 đàn ong mật, hàng năm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu hơn 100 tấn cho trị giá hơn 10 tỷ đồng.

Mới đây, chuối tiêu hồng Khoái Châu và gà Ðông Tảo Khoái Châu đã được công nhận nhãn hiệu tập thể, chứng nhận nhãn hiệu. Trong thời gian tới huyện sẽ đề nghị cơ quan chuyên ngành công nhận nhãn hiệu tập thể cho nghệ, bưởi Khoái Châu… 

Chuối tiêu hồng Khoái Châu:

Huyện Khoái Châu là vùng trồng chuối tiêu hồng lớn nhất tỉnh Hưng Yên, với diện tích hơn 500ha. Chuối trở thành cây trồng chủ lực đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân nơi đây. Xác định ưu tiên phát triển cây chuối tiêu hồng, huyện Khoái Châu đã phối hợp với cơ quan, đơn vị xây dựng các tiêu chí cần cho sản phẩm chuối tiêu hồng và được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể. Việc này giúp người dân địa phương nâng cao giá trị, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho nhân dân vùng trồng chuối trong việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, góp phần phát triển kinh tế.

Quả chuối tiêu hồng Khoái Châu có kích thước vừa phải, vị ngọt, thơm ngon, mẫu mã đẹp được trồng theo quy trình VietGAP; bảo quản sản phẩm bằng các chế phẩm sinh học và được chăm bón bằng chất hữu cơ cân đối. Cây chuối sau khi ra buồng, người dân địa phương ngắt hoa và bao bằng túi ni lông; thời gian thu hoạch chuối tiêu hồng quanh năm, nhưng tập trung vào dịp Tết Nguyên đán.

Huyện Khoái Châu có phong trào chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi nhanh, hiệu quả của tỉnh. Trên địa bàn huyện đã hình thành những vùng chuyên canh rộng lớn như chuối tiêu hồng ngoài bãi ven sông Hồng ở các xã Tứ Dân, Ðại Tập, Ðông Ninh...; nhãn chín muộn ở các xã Hàm Tử, An Vĩ, Bình Minh; cây có múi ở các xã Bình Minh, Dạ Trạch, Ðông Tảo... 

Huyện đặc biệt quan tâm tới xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu cho nông sản. Năm 2011, huyện đã phê duyệt "Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, từng bước xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh trên thị trường"; triển khai đề án "Giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao giai đoạn 2012 - 2015" của tỉnh... Quy hoạch xây dựng từng vùng sản xuất nông sản, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, đào tạo nghề cho nông dân gắn với vùng sản xuất, nhãn hiệu, thương hiệu nông sản.

Có được kết quả trên, tỉnh, các ngành, địa phương đã thực hiện nhiều giải pháp như: Hỗ trợ nông dân sản xuất, xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu nông sản, xây dựng quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận một số đặc sản của địa phương; hỗ trợ kinh phí để giúp duy trì và phát triển các nhãn hiệu, thương hiệu đã được bảo hộ, in tem nhãn, bao bì, tham gia hội chợ triển lãm... nên sản phẩm tiêu thụ thuận lợi, giá bán cao. Tuy nhiên, nông sản của tỉnh chủ yếu vẫn tiêu thụ nội địa, tỷ lệ xuất khẩu đạt thấp. Nguyên nhân do phần lớn nông dân chưa nhận thức, quan tâm đầy đủ đến việc xây dựng, bảo vệ nhãn hiệu, thương hiệu nông sản. Mặt khác, do nhãn hiệu tập thể nông sản có đặc thù là sở hữu chung của một tập thể gồm những hộ nông dân cá thể, nhưng sự gắn kết, ràng buộc chưa chặt chẽ. 

 Ðể nhãn hiệu, thương hiệu nông sản phát triển bền vững, các ngành, địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nông dân về việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu hàng hóa nông sản; quảng bá vai trò, tác dụng của sở hữu trí tuệ với việc phát triển đặc sản của địa phương; tăng cường công tác quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, nhãn mác, thương hiệu. Người sản xuất phải bảo vệ và phát triển thương hiệu của sản phẩm bằng cách nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất để tạo ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chất lượng và báo cáo kịp thời với cơ quan chức năng khi phát hiện hàng nhái với sản phẩm đã được chứng nhận nhãn hiệu tập thể.

Vải thiều Việt Nam lần đầu tiên xuất khẩu sang Thái Lan

Vải thiều Lục Ngạn là một trong những loại vải ngon nhất, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường cao cấp Mỹ, Úc, EU, Nhật Bản. Đại diện Central Group Việt Nam và siêu thị Big C cho biết, từ ngày 20/6, lô vải thiều Lục Ngạn đầu tiên được tập đoàn Central Group Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Thái Lan.

Đây cũng chính là lô vải đầu tiên của Việt Nam được xuất khẩu sang Thái Lan, mở ra cơ hội lớn hơn cho trái vải thiều Việt Nam tiếp cận thêm thị trường nhiều tiềm năng khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ do Cộng đồng ASEAN đã có hiệu lực.

Từ ngày 16/6/2017 đến hết vụ vải thiều năm nay, vải thiều Lục Ngạn sẽ được bán tại hệ thống siêu thị Big C trên toàn quốc kèm các chương trình ưu đãi về giá giúp người tiêu dùng có cơ hội thưởng thức loại vải thiều Lục Ngạn chính hiệu. Các sản phẩm vải thiều sẽ được đóng hộp với đủ thông tin như chứng nhận Viet GAP, mã vạch truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý, in logo nhãn mác...

Dự kiến, ít nhất sẽ có 150 tấn vải thiều nói chung, trong đó 70 tấn là vải thiều tươi Lục Ngạn, được tiêu thụ tại các siêu thị Big C toàn quốc trong dịp này.

Vải thiều Lục Ngạn là một trong những loại vải ngon nhất, có độ ngọt thanh, vỏ đỏ khi chín tới, cùi dày và hạt nhỏ. Vải được trồng ở Lục Ngạn là vùng trồng đã được Mỹ cấp 18 mã vùng chỉ dẫn địa lý với hơn 300 hộ dân trên 217 ha; quá trình sản xuất được các cơ quan chức năng giám sát nghiêm ngặt; đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường cao cấp Mỹ, Úc, EU, Nhật Bản.

Năm 2017, có 40 nghìn tấn vải thiều sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc

Theo báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang, tính đến nay, toàn tỉnh đã tiêu thụ được khoảng trên 22.000 tấn vải thiều. Trong đó Tân Yên trên 12.000 tấn, Lục Nam là 2.000 tấn, Lục Ngạn là 5.500 tấn, Yên Thế là 800 tấn... Tình hình tiêu thụ vải thiều tương đối thuận lợi, người dân khu vực bán được giá cao. Mức giá dao động từ 15.000 - 45.000 đồng/kg tùy từng loại vải, thời điểm và địa bàn.

Trong năm 2017, sản lượng vải thiều của tỉnh ước tính sẽ đạt khoảng 100.000 tấn, bằng 70% so với năm trước. Trong đó, sản lượng vải thiều VietGap đạt khoảng 40.000 tấn, vải GlobalGap đạt 1.600 tấn.

Vải thiều Bắc Giang được tiêu thụ ở cả thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Trong đó, thị trường nội địa chủ yếu tập trung ở các tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội và TP.HCM với sản lượng đạt khoảng trên 15.000 tấn. Vải xuất khẩu chủ yếu tại thị trường Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai với sản lượng đến nay đạt trên 9.500 tấn.

Năm 2017, Trung Quốc tiếp tục được xác định là thị trường xuất khẩu truyền thống, quan trọng của vải thiều Bắc Giang. Dự kiến tổng sản lượng vải thiều xuất khẩu khoảng 50.000 tấn, trong đó xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khoảng 40.000 tấn, chiếm 80%.

Đáng chú ý, năm 2017, lần đầu tiên quả vải Việt Nam sẽ được xuất khẩu sang 3 thị trường mới là Trung Đông, Canada và Thái Lan.

Tập đoàn CJ khánh thành nhà máy gia công ớt bột tại tỉnh Ninh Thuận

Ngày 23/6/2017, Tập đoàn CJ (Hàn Quốc) đã khánh thành nhà máy chế biến nông sản về gia công ớt bột nhằm mục đích tiêu thụ ớt thu hoạch từ chương trình “Chia sẻ Giá trị Cộng đồng: Phát triển vùng chuyên canh ớt”  tại thôn Tầm Ngân 2, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Đây là dự án Nông Thôn Mới được Tập đoàn CJ phát động tại tỉnh Ninh Thuận từ năm 2014, nhằm phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp.

Dự án do CJ kết hợp cùng Cơ quan Hợp tác Quốc Tế KOICA và UBND tỉnh Ninh Thuận, phát triển nông trại trồng ớt nhằm giúp đỡ nông dân tại tỉnh có 1 cuộc sống tốt đẹp hơn, đồng thời  tạo ra nguồn nguyên liệu mới cho CJ trong quá trình sản xuất ớt bột.  

Với tổng vốn đầu tư hơn 650 nghìn USD, diện tích 640m2 và khả năng gia công tối đa 500 tấn ớt bột mỗi năm, nhà máy gia công ớt bột này được trang bị phòng rửa ớt, sấy khô, xay ớt, bảo quản lạnh và đông lạnh.

Đầu vào của nhà máy chủ yếu là sản lượng ớt được thu hoạch bởi các hộ nông dân tham gia chương trình “Phát triển vùng chuyên canh ớt” tại thôn Tầm Ngân 2, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Thành phẩm ớt bột được sản xuất tại nhà máy, qua quá trình kiểm duyệt chất lượng nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn Tập đoàn CJ, sẽ trở thành nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho ngành công nghiệp thực phẩm của CJ.

Giao thương:

1. Một doanh nghiệp Hàn Quốc có nhu cầu nhập khấu ngô nếp trắng với các yêu cầu cụ thể như sau:

Tên hàng: ngô nếp trắng (white waxy corn)

Mã HS: 2005.80

Quy cách: Đựng trong túi hút chân không, 2 sản phẩm/túi; trọng lượng mỗi túi khoảng 500g, 20-30 túi/hộp carton, bảo quản ở nhiệt độ phòng. Có thể ăn ngay sau khi cho vào lò vi sóng.

Khối lượng: 2 container 40 feet mỗi tháng

Điều kiện giao hàng: FOB cảng Việt Nam hoặc CIF Busan

Đóng gói: Túi nilon hút chân không

Doanh nghiệp quan tâm đề nghị liên hệ với Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc:

Embassy of Viet Nam in the Republic of Korea, Trade Office

Add: 6th Floor, Golden Bridge Build., Chungjeongno 3-ga, No.222, Seodaemun-Gu, Seoul, 120-708

Tel: (82-2) 364-3661; Fax: (82-2) 364-3664;

HP: 82-10-4342-6868; Email: kr@moit.gov.vn; cttrung@yahoo.com

Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc

2. Từ ngày 23-27/8: Hội chợ Thương mại và Người tiêu dùng Halfest 2017

Mời tham dự Hội chợ Thương mại và người tiêu dùng Halfest Asean 2017 lần thứ 6 tại Malaysia .

HALFEST ASEAN là Hội chợ Thương mại và Người tiêu dùng sản phẩm Halal lớn ở Malaysia do Bộ Phát triển Vùng & Nông thôn chủ trì, người tổ chức Tập đoàn phát triển Công nghiệp Halal cùng với một số tổ chức khác: Majlis Amanah Rakyat, Phòng TM-CN Malaysia ... . Nhằm giới thiệu các sản phẩm Halal đến thị trường 250 triệu người tiêu dùng trong khối Asean.

Halfest Asean 2016 có 515 gian hàng của 412 công ty và gần 83 nghìn người tham dự.

Halfest Asean 2017 lần thứ 6 sẽ được tổ chức từ ngày 23 – 27/8/2017 tại Trung tâm Triển lãm Hội nghị Quốc tế Malaysia (MIECC) ở Kuala Lumpur-Malaysia.

Hội chợ sẽ trưng bày và giới thiêu các sản phẩm tiêu chuẩn Halal tới khách hàng trong khu vực; gặp gỡ các đối tác kinh doanh, đầu tư; cách thức xâm nhập thị trường; xu hướng tiêu thụ sản phẩm Halal ...

Đề nghị các doanh nghiệp quan tâm vui lòng truy cập http://www.halal.com.my để xem thông tin chi tiết.Hoặc liên hệ với ban tổ chức tel: + 60 3 6203 4433; e-mail: partnership@halal.org.my

Hoặc Thương vụ Việt Nam tại Malaysia Tel: + 603 2141 4692 Fax: + 603 2141 4696

Email: my@moit.gov.vn để phối hợp giúp đỡ.

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH

Bổ sung dự toán thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Tại Quyết định số 875/QĐ-TTg ban hành ngày 16/6/2017, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính thông báo dự toán chi bổ sung từ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và bổ sung có mục tiêu cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phân bổ dự toán bổ sung kế hoạch năm 2017 và triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình theo quy định tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 và Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương được giao chủ trì các nội dung thuộc Chương trình phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phân bổ dự toán bổ sung kế hoạch năm 2017 và triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình theo quy định tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 và Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017.

Bên cạnh đó, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo đúng các quy định hiện hành về quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện Chương trình căn cứ dự toán được giao, thực hiện phân bổ và giao dự toán bổ sung thực hiện Chương trình cho các đơn vị, các cấp sử dụng ngân sách trực thuộc theo đúng nội dung quy định tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 và Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định về quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Tôm Australia chế biến ở Việt Nam được cấp phép tái nhập vào Australia

Từ 15/6/2017, Australia chấp nhận đơn xin phép nhập khẩu tôm chưa nấu chín đánh bắt tự nhiên ở Australia rồi xuất sang VN để chế biến sau đó tái nhập lại Australia.

Ngày 15/06/2017, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đưa ra thông báo về việc Bộ này đã nhận được văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, đó là Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về việc có thể đáp ứng được các điều kiện nhập khẩu được đưa ra trong giấy chứng nhận kiểm dịch mới.

Kể từ ngày 15 tháng 06 năm 2017, Bộ Nông nghiệp Australia sẽ chấp nhận các đơn xin phép nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia rồi xuất khẩu sang Việt Nam để chế biến sau đó tái nhập lại Australia.

Hệ thống cơ sở dữ liệu về các điều kiện an toàn sinh học nhập khẩu (BICON) đã được Bộ Nông nghiệp Australia cập nhật các yêu cầu mới này.

Các đơn xin phép nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia rồi được chế biến ở các quốc gia khác không phải Việt Nam sẽ chỉ được chấp nhận khi cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia đó đảm bảo rằng họ có thể đáp ứng được các điều kiện nhập khẩu mới của Australia.

Mới gần đây, ngày 29/5/2017, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đã gửi thư cho Cục Thú y Việt Nam thông báo về việc Chính phủ Australia quyết định nới lỏng Lệnh tạm dừng nhập khẩu tôm lần thứ 4. Phía Australia sẽ bắt đầu chấp nhận các đơn đặt hàng nhập khẩu đối với tôm tẩm ướp và thịt tôm tẩm ướp chưa qua nấu chín từ ngày 12/7/2017 với điều kiện đáp ứng nghiêm ngặt các qui định của Australia.

Như vậy, sau khi ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm từ 9/1/2017, đến nay Australia đã 5 lần thông báo nới lỏng lệnh cấm, chính phủ nước này đã loại trừ 08 sản phẩm tôm ra khỏi lệnh tạm dừng nhập khẩu trong đó thông báo mới nhất là cho phép tôm xuất xứ Australia chế biến ở Việt Nam được phép tái nhập vào thị trường Australia..

TIN VẮN

+ Philippines hạ dự báo sản lượng gạo quý 2/2017

Theo Cơ quan thống kê Philippines, sản lượng lúa trong quý 2/2017 của nước này được dự báo ở mức 4,1 triệu tấn, giảm từ mức dự báo đưa ra hồi tháng 4 là 4,13 triệu tấn. Nguyên nhân chính được cho là do mưa liên tục tại một số tỉnh và các yếu tố khác. Tại một số tỉnh khác, nguyên nhân lại do tỉnh trạng thiếu nguồn cung nước và sâu bệnh dịch hại”, theo báo cáo của PSA. Bất chấp việc hạ dự báo sản lượng lúa, PSA nhấn mạnh rằng sản lượng lúa gạo quý 2/2017 vẫn tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2016, chỉ đạt 3,71 triệu tấn.

+ Bangladesh tổ chức các đợt đấu thầu nhập khẩu gạo để tăng dự trữ

Cơ quan thu mua ngũ cốc Bangladesh đã công bố thông tin về đợt đấu thầu nhập khẩu gạo lần thứ 4 để nhập khẩu 50.000 tấn gạo đồ, theo nguồn tin chính thống cho hay, nhằm tăng cường kho dự trữ và kìm chế giá gạo nội địa. Hạn chót để nhận thầu là ngày 9/7 và các lô hàng gạo cần được vận chuyển tới cảng đến trong vòng 40 ngày sau khi ký thỏa thuận, một nhà chức trách cấp cao của cơ quan thu mua ngũ cốc quốc gia Bangladesh cho hay.

+ Philippines ban hành lịch trình thuế MFN giai đoạn 2017 – 2020

Philippines vừa công bố chỉ thị hành động số 20 (EO 20) đưa ra lộ trình thuế MFN giai đoạn 2017 – 2020 cho tất cả các sản phẩm, bao gồm thực phẩm và nông sản (HS code chương 1 – 24), có hiệu lực từ ngày 17/6/2017.

+ Việt Nam chỉ nên xuất khẩu thịt lợn chế biến

Bộ NNPTNT đang khuyến khích ngành chăn nuôi lợn chỉ nên xuất khẩu thịt lợn chế biến, thay vì thịt lớn sống. “Tôi đề xuất rằng chúng ta nên tập trung vào xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi chế biến, như thịt đông lạnh, bao gồm lợn sữa và các sản phẩm khác. Ngay cả Thái Lan cũng chỉ xuất khẩu các sản phẩm chế biến”, theo phát biểu của ông Vũ Văn Tám – thứ trưởng Bộ NN trước báo giới, bổ sung thêm rằng kiểm saots dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam. Ông cũng khuyến khích sử dụng công nghệ hiện đại trong chăn nuôi và đa dạng hóa các nguồn giống chăn nuôi để có chất lượng thịt tốt, hạ giá thành. Điều này sẽ giúp các nhà sản xuất cạnh tranh được trên phạm vi khu vực và tăng lượng xuất khẩu thịt.

+ Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam phục hồi

Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam đang phục hồi mạnh sau khi tăng trưởng chậm lại do thị trường bão hòa vào hồi đầu năm. Các chuyên gia cho rằng khuynh hướng này sẽ tiếp diễn trong quý 3/2017. Theo VASEP, xuất khẩu cá ngừ trong quý 1/2017 đã tăng 23% so với cùng kỳ năm 2016, lên 121 triệu USD. Lượng xuất khẩu tăng đặc biệt ấn tượng với cá ngừ đóng hộp tăng 39,7% trong cùng kỳ so sánh. Trong khi đó, cá ngừ đông lạnh tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu, chiếm 47% tổng xuất khẩu cá ngừ trong quý 1, mang về 57 triệu USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2016. Israel là thị trường tăng trưởng nhanh nhất, đạt 172,9%, vượt qua các nước ASEAN và Nhật Bản.

+ Hàn Quốc thắt chặt quy định nhập khẩu tôm

Từ ngày 1/4/2018, một sự thay đổi lớn sẽ tác động tới xuất khẩu tôm Việt Nam sang Hàn Quốc. Tôm đông lạnh được yêu cầu có chứng nhận nhập khẩu và kiểm tra mẫu thủy sản được yêu cầu thực hiện trước khi các lô hàng tôm rời Việt Nam. Do đó, các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam sẽ phải tốn thêm chi phí cho quá trình kiểm tra trước khi xuất hàng, theo ông Trần Văn Phạm, tổng giám đốc Stapimex, một doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam cho biết. Để giải quyết vấn đề chi phí này, các công ty sẽ nỗ lực hạ giá thủy sản nguyên liêu, qua đó sẽ tác động tới nông dân và toàn bộ ngành tôm.

+ Ấn Độ tăng giá thu mua gạo, bông do nông dân biểu tình

Theo một văn bản chính thức của chính phủ Ấn Độ, nước này sẽ tăng giá thu mua gạo, bông và một số nông sản khác lên mức cao nhất kể từ khi Thủ tướng Narendra Modi lên nắm quyền vào năm 2014, giữa tình trạng nông dân biểu tình tại các bang sản xuất nông nghiệp lớn nhất Ấn Độ. Giá thu mua lúa cho nông dân nội địa tăng 5,4% lên 1.550 Rupee/100kg, tương đương 24.03 USD/100kg cho năm tài khóa bắt đầu từ tháng 7 tới, trong khi giá bông tăng 3,8% lên 4.320 Rupee/kg. Tăng giá thu mua lúa gạo, bông và các nông sản khác diễn ra sau những cuộc biểu tình lớn của nông dân tại bang Madhya Pradesh và Maharashtra, các bang sản xuất nông nghiệp chính của Ấn Độ.